Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý thiết bị dạy học phục vụ hoạt động đào tạo. Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thiết bị dạy học phục vụ hoạt động đào tạo của trường Đại học Công nghiệp Hà Nội. Chương 3: Các biện pháp quản lý thiết bị dạy học phục vụ hoạt động đào tạo ở trường Đại học Công nghiệp Hà Nội. 4 z Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC PHỤC VỤ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO 1.
Cơ sở lý luận về quản lý đào tạo 1. Khái niệm hoạt động đào tạo Theo Từ điển tiếng Việt năm 2002, thì „‟Hoạt động‟‟ là tiến hành những việc làm có quan hệ với nhau chặt chẽ nhằm một mục đích nhất định trong đời sống xã hội.452] Theo Từ điển Giáo dục học thì “Hoạt động‟‟ là hình thức biểu hiện quan trọng nhất của mối quan hệ tích cực, chủ động của con người đối với thực tiễn xung quanh. Còn đối với từng khía cạnh của thực tiễn, hoạt động là quá trình diễn ra một loạt hành động có liên quan chặt chẽ với nhau tác động vào đối tượng nhằm đạt được mục đích nhất định trong đời sống xã hội.[11] “Đào tạo” là làm cho trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định.289] Đào tạo - Quá trình chuyển giao có hệ thống, có phương pháp những kinh nghiệm, những tri thức, những kỹ năng kỹ xảo nghề nghiệp, chuyên môn, đồng thời bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức cần thiết và chuẩn bị tâm thế cho người học đi vào cuộc sống lao động tự lập và góp phần xây dựng và bảo vệ đất nước. Cách tiến hành hỗ trợ, bồi dưỡng nhằm nâng cao năng lực, phẩm chất phù hợp với đòi hỏi của cơ quan tổ chức.
Như vậy “hoạt động đào tạo” là tiến hành những việc làm có quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm làm cho học sinh, sinh viên trở thành những người có năng lực theo những tiêu chuẩn của cấp học cao hơn, tiêu chuẩn của người lao động. Đào tạo đại học: Theo quan niệm tại Hội nghị Thế giới Giáo dục Đại học thế kỷ 21 (Paris, 10/1998), đào tạo đại học được hiểu là tất cả các loại hình học tập, đào 5 z tạo hoặc đào tạo cho nghiên cứu được đảm bảo ở trình độ sau trung học bởi một cơ sở đại học hoặc được những nhà chức trách có thẩm quyền công nhận như một cơ sở đại học. Với cách hiểu trên, không phải mọi hoạt động học tập, đào tạo sau trung học đều thuộc phạm vi đào tạo đại học, mà chỉ có những hoạt động học tập, đào tạo của một cơ sở đại học hoặc được coi như cơ sở đại học được phép thực hiện theo chương trình ở bậc đại học thì mới được coi là đào tạo đại học. Ở nước ta phạm vi của trình độ đại học chỉ bao gồm 2 mức là: trình độ cao đẳng và trình độ đại học; hoạt động đào tạo đại học được thực hiện ở hai loại cơ sở là: trường cao đẳng đào tạo trình độ cao đẳng và trường đại học đào tạo trình độ cao đẳng và đại học; ngoài ra có một loại cơ sở nữa là Học viện do một số Bộ quản lý, trước đây đã từng là cơ sở đại học, nay vẫn được coi như là một cơ sở đại học.
Như vậy có thể khái quát quan niệm về đào tạo đại học ở Việt Nam hiện nay như sau: Đào tạo đại học là các hoạt động học tập, đào tạo hoặc đào tạo cho nghiên cứu do các cơ sở đại học tổ chức và thực hiện nhằm đảm bảo cung cấp cho người học một số tri thức, kỹ năng nghề nghiệp tương ứng với trình độ theo đúng chương trình, thời gian do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã quy định cho đào tạo ở bậc đại học. Vai trò của đào tạo đại học đối với sự phát triển kinh tế – xã hội “Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao thông qua GD ĐH được xem là quy luật tất yếu trong thời đại ngày nay. Vì vậy, GD ĐH có vị trí quan trọng hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia”,[26,tr72]. Từ trước tới nay giáo dục đại học có mục đích là thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước bằng cách cung cấp nguồn nhân lực được đào tạo ở trình độ cao.
6 z Mục đích này được thực hiện bằng hai hoạt động có liên quan với nhau là: Đào tạo sinh viên đáp ứng nhu cầu về nhân lực của các nghành, các tổ chức trong toàn bộ đời sống chính trị, kinh tế xã hội của đất nước; và làm phong phú thêm kho tàng kiến thức thông qua hoạt động nghiên cứu khoa học. “Việc hình thành và tạo dựng nguồn vốn nhân lực của mỗi cá nhân là một quá trình thay đổi chất lượng sức lao động. Qúa trình này chủ yếu do trình độ giáo dục quyết định. Theo lý thuyết vốn con người, thì vốn đó được thể hiện thông qua năng suất lao động, nghĩa là vốn nhân lực càng cao thì năng suất lao động càng cao.
Nguồn vốn nhân lực được tạo ra qua quá trình giáo dục, bồi dưỡng thể chất, trong đó giáo dục đại học có vai trò rất quan trọng‟‟[26, tr. Cụ thể là: - Đào tạo đại học sẽ góp phần làm tăng khả năng tích tụ vốn nhân lực cho người lao động, tăng quy mô tập trung vốn nhân lực cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Nghiên cứu về quá trình phát triển cúa xã hội loài người trải qua các phương thức sản xuất từ thấp đến cao, học thuyết Mác đã chỉ rõ: cái làm thay đổi từ một hình thái kinh tế - xã hội này sang một hình thái kinh tế – xã hội khác là do sự phát triển của lực lượng sản xuất. Tác động mang tính quyết định đến sự phát triển của lực lượng sản xuất lại chính là con người trong lực lượng sản xuất.
Luận điểm này đã được thực tiễn kiểm chứng và trở thành như một chân lý mà các nhà kinh tế học cho dù theo đuổi các trường phái chính trị khác nhau đều phải thừa nhận. Mỗi người lao động có lượng vốn nhân lực khác nhau, mỗi cá nhân muốn tăng khả năng tích tụ vốn nhân lực cho mình thì cách tốt nhất là phải học, theo học được ở trình độ càng cao thì khả năng tích tụ vốn nhân lực càng cao, theo học một cách thường xuyên liên tục thì tính bền vững của vốn nhân lực càng tốt. Bậc học có ảnh hưởng lớn nhất, mang tính quyết định nhất đến khả năng tích tụ vốn nhân lực cho mỗi người là đào tạo đại học. Nhờ quy mô 7 z tích tụ vốn nhân lực ở mỗi cá nhân ngày càng lớn mà sẽ có điều kiện thuận lợi cho việc tăng quy mô tập trung vốn nhân lực trong nền kinh tế quốc dân.
Trong chiến lược xây dựng và phát triển đất nước vững bước tiến lên công nghiệp hóa, hiện đại hoá, Đảng ta đã xác định: “Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững”[6] - ĐTĐH góp phần thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế một cách toàn diện. Vai trò này thể hiện trước hết ở sự thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở mức cao và có tính bền vững. Thật vậy, trong mối quan hệ giữa lao động với năng xuất lao động; thì lao động giữ vai trò quyết định, đồng thời một lực lượng lao động có tiềm năng cao về vốn nhân lực thì cùng với quá trình lao động là quá trình sáng tạo làm cho quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm và dịch vụ ngày càng phát triển, trang thiết bị ngày càng hiện đại nên tất yếu năng xuất lao động phải được nâng cao. Những thuyết tăng trưởng kinh tế mới cho rằng công nghệ thay đổi càng nhanh thì càng thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế dài hạn.
Về phần mình, công nghệ thay đổi nhanh hơn khi lực lượng lao động có trình độ cao hơn. Vì vậy tích luỹ vốn con người, đặc biệt là kiến thức sẽ tạo điều kiện phát triển các công nghệ mới và là nguồn duy trì tăng trưởng. - Hơn nữa vai trò của ĐTĐH còn thể hiện ở sự đóng góp làm tăng thêm thu nhập quốc dân bình quân đầu người và nguồn để tái đầu tư với quy mô lớn và tốc độ nhanh. Khả năng làm tăng thêm thu nhập quốc dân bình quân đầu người từ ĐTĐH thực chất là hệ quả của sự tăng trưởng kinh tế; trong điều kiện các nhân tố khác không có gì thay đổi đáng kể.
Đây cũng là xu thế tất yếu thường xảy ra trong hoạt động thực tiễn vì khi ĐTĐH đã đạt đến một mức độ đủ khả năng để thúc đẩy kinh tế tăng trưởng thì dân trí cũng đã được nâng cao và vòng xoáy của thị trường lao động cuốn hút mọi người phải đi theo tiến độ của nó. Nhờ vậy nhịp độ gia tăng dân số sẽ có mức giảm đáng kể nên thu nhập 8 z quốc dân bình quân đầu người sẽ được tăng dần qua các năm. Khi thu nhập quốc dân đàu người tăng sẽ tạo nguồn tài chính cho việc hình thành các hình thức phân phối mới hoặc điều chỉnh lại các mức phân phối của các hình thức đã có theo xu hướng tăng lên; trong đó thu nhập của mỗi cá nhân trong xã hội cũng được cải thiện. Nếu chỉ xét riêng về mức tăng trưởng thu nhập cá nhân của những người đào tạo ở trình độ đại học thì tốc độ tăng trưởng thu nhập cá nhân của những người này cao hơn tốc độ tăng trưởng trung bình của toàn xã hội, bởi vì „‟lao động có kỹ thuật cao phải bỏ ra một khoản chi phí về công sức và tiền của để trau dồi nghề nghiệp nhiều hơn, do vậy thu nhạp cao là để những chi phí cho việc học tập và ít nhất cũng có một số lợi nhuận qua đầu tư giáo dục‟‟- theo Adam Smith.
Người lao động đã tốt nghiệp đại học lại có cơ hội dành một phần thu nhập của mình cho mục đích tái đầu tư nhằm tiếp tục mở rộng, nâng cao kiến thức và kỹ năng để có thể đáp ứng được các đòi hỏi của thị trường lao động ngày càng khó tính, hoặc có thể tham gia đầu tư vào các hoạt động hác của nền kinh tế. Nhờ vậy nguồn vốn thuộc quyền sở hữu của mỗi cá nhân được chuyển thành nguồn vốn thuộc quyền sở hữu cua các nhà đầu tư khác trong xã hội. - Vai trò của ĐTĐH còn thể hiện ở sự góp phần thúc đẩy sự hình thành cơ cấu kinh tế mới của nền kinh tế quốc dân.