CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG VÀNG VÀ QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG VÀNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VÀNG 1. Khái niệm về vàng Vàng là một loại kim loại có giá trị cao, không phản ứng với hầu hết các hóa chất và ít bị ôxy hóa. Với đặc tính của kim loại chuyển tiếp, vàng nguyên chất mềm, dễ uốn và dát mỏng, tạo hình.
Do có những đặc điểm trên nên vàng thường được dùng làm nguyên liệu trong các ngành công nghiệp chính xác, y khoa, đúc tiền và trang sức cao cấp (Cộng đồng kinh doanh Saga, 2015). Đơn vị đo lường vàng tại Việt Nam là lượng (cây, lạng), chỉ, phân. Một lượng vàng tương đương 37,5g vàng; một lượng bằng mười chỉ và một chỉ bằng mười phân. Đơn vị đo lường vàng của thế giới là USD/oz.
Với tỷ lệ quy đổi 1 oz vàng = 31,10348g thì 1 oz vàng xấp xỉ 0,82943 lượng vàng. Từ đó, để quy đổi từ giá vàng thế giới sang giá vàng tương ứng tại Việt Nam, ta áp dụng công thức sau: Giá quy đổi = (Giá thế giới + phí vận chuyển + phí bảo hiểm) x (1 + thuế nhập khẩu) x tỉ giá USD/VND / 0,82943 Do tính chất của vàng nguyên chất là mềm nên để dễ dàng chế tác thì người ta trộn thêm các kim loại khác để tạo thành hợp kim vàng có độ cứng lớn hơn. Để đo lường độ tinh khiết của vàng, người ta dùng đơn vị karat (viết tắt là K hoặc Kt) với thang đo từ 1-24. Vàng 24K là vàng tinh khiết nhất, nghĩa là đạt 99,99% độ tinh khiết.
Phân loại vàng Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF (1993, trang 39), vàng được chia thành hai loại, vàng tiền tệ và vàng phi tiền tệ. Vàng tiền tệ Vàng tiền tệ là vàng do các cơ quan có chức năng điều hành chính sách tiền tệ (ở Việt Nam là Ngân hàng Nhà nước) sở hữu và nắm làm tài sản dự trữ. Khi cơ quan này mua (nhập khẩu), hoặc bán (xuất khẩu) vàng với cơ quan điều hành chính sách tiền tệ của một nước khác hoặc một tổ chức tiền tệ quốc tế (như Quỹ tiền tệ quốc tế - IMF, Ngân hàng Thế giới – WB…) thì đó là giao dịch xuất nhập khẩu vàng tiền tệ, được hạch toán cả hai bút toán trong cán cân tài chính/tài sản dự trữ BOP. Theo đó, tài sản dự trữ không thay đổi, chỉ thay đổi việc nắm giữ vàng nhiều hơn ngoại tệ và ngược lại.
Xuất nhập khẩu vàng tiền tệ không được thống kê vào xuất nhập khẩu hàng hóa (Việt Xuân, 2013). Theo thông tin về quản lý dự trữ vàng trên website chính thức của WGC, kể từ năm 2010 đến nay, các ngân hàng trung ương ở trạng thái mua ròng đối với vàng. Điều này được lý giải do các quốc gia lo ngại sự biến động của thị trường tiền tệ thế giới và họ đa dạng hóa nguồn dự trữ của mình. Vàng thường được sử dụng như một hàng rào lạm phát dài hạn của các nhà đầu tư.
Cũng theo nghiên cứu này, vàng có một mối tương quan tiêu cực tới đồng tiền dự trữ phổ biến nhất được sử dụng,đó là đồng đô la Mỹ. Điều này làm cho nó trở thành một hàng rào hiệu quả chống lại đồng USD yếu trong tương lai. Bên cạnh đó, tính thanh khoản cao của vàng cũng góp phần đưa vàng trở thành một trong những lựa chọn của các quốc gia. Vàng tiền tệ đóng vai trò tương đương như một loại ngoại tệ, góp phần trong cơ cấu các loại ngoại tệ trong dự trữ quốc gia của các quốc gia trên thế giới hoặc quỹ dự trữ của các tổ chức tài chính quốc tế.
Vàng phi tiền tệ Vàng phi tiền tệ là vàng được xuất nhập khẩu bởi các doanh nghiệp hoặc ngân hàng thương mại phục vụ cho mục đích sản xuất và kinh doanh, lưu trữ giá trị. Xuất 7 nhập khẩu vàng loại này được thống kê vào xuất nhập khẩu hàng hóa (Việt Xuân, 2013). Vàng phi tiền tệ được coi như là một loại hàng hóa, vừa được dùng như một phương thức trung gian thanh toán, vừa dùng trong ngành công nghiệp điện tử, nha khoa hoặc sản xuất nữ trang, vừa là một phương thức dự trữ tài sản (Philip Turnbull, 2004). Tại Việt Nam, vàng được dùng trong các ngành công nghiệp chế tạo các thiết bị điện tử, y khoa, thực phẩm và ngành kim hoàn.
Trong phạm vi ngành công nghiệp kim hoàn tại Việt Nam, vàng được chia thành vàng miếng và vàng trang sức. Vàng miếng là vàng có hàm lượng vàng 24K, được dập thành miếng, có đóng chữ, số chỉ khối lượng, chất lượng và ký mã hiệu của doanh nghiệp sản xuất. Vàng trang sức là vàng có hàm lượng vàng từ 8K trở lên, được chế tác, gia công phục vụ cho nhu cầu trang sức và trang trí mỹ thuật. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG VÀNG 1.
Đặc điểm của thị trường vàng Thị trường vàng là một thị trường giao dịch toàn cầu, giao dịch cả ngày lẫn đêm tại các quốc gia khác nhau. Thị trường vàng là một thị trường có tính thanh khoản cao. Các chủ thể tham gia thị trường vàng bao gồm các công ty thuộc ngành khai thác mỏ vàng, các công ty thuộc ngành tái chế vàng, các ngân hàng trung ương, các nhà đầu tư và người tiêu dùng sản phẩm vàng (Sverdrup, Koca và Granath, 2012). Thị trường vàng có một vai trò riêng biệt và quan trọng trên thị trường tài chính, nó như là một nơi trú ẩn an toàn, bên cạnh đó, việc tham gia thị trường vàng cũng là 8 cách để bảo hiểm rủi ro và đa dạng hóa danh mục đầu tư.
Theo lý thuyết, không có nguyên nhân nào giải thích lý do tại sao vàng lại được xem như một tài sản trú ẩn an toàn, các bằng chứng lịch sử cho thấy đầu tư vào thị trường vàng tăng vọt trong suốt khoảng thời gian thị trường tài chính rối loạn. Có một lời giải thích rằng vàng là một trong những hình thái cổ xưa nhất của tiền và theo truyền thống, chúng được sử dụng như một biện pháp bảo vệ tài sản khỏi lạm phát. Thị trường vàng bao gồm thị trường vàng vật chất và thị trường vàng phi vật chất (Trück và Liang, 2012). Thị trường vàng nói chung, hay cung vàng và cầu vàng nói riêng đều có những ảnh hưởng nhất định đến nhiều khía cạnh của nền kinh tế.
Nền công nghiệp khai thác vàng và tái chế vàng đã cung cấp một lượng vàng rất lớn đáp ứng cho nhu cầu của các nhà đầu tư và các tổ chức tài chính và phi tài chính bằng các sản phẩm vàng thỏi, vàng trang sức, vàng nguyên liệu cho các ngành công nghiệp điện tử và y khoa. Bên cạnh đó, nó còn mang lại nhiều việc làm và đóng góp cho ngân sách của quốc gia thông qua việc đóng thuế và xuất khẩu vàng (Ogier, Ambler và Teow, 2013). Cung vàng Nguồn cung vàng trên thế giới đến từ ba nguồn: khai thác mỏ vàng, tái chế vàng và các ngân hàng trung ương bán vàng từ nguồn dự trữ ngoại hối của mình (World Gold Coucil, 2009).1, nguồn cung vàng đa số đến từ nguồn khai thác mỏ vàng trên thế giới.1: Nguồn cung vàng trên thế giới Đơn vị tính: tấn STT Nguồn cung 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 1 Khai thác mỏ 2,044 2,332 2,600 2,847 2,830 3,011 3,157 Bán ra từ khu 2 vực chính thức 279 30 (77) (457) (544) (409) (477) 9 3 Tái chế 1,146 1,672 1,641 1,669 1,634 1,262 1,122 TỔNG CUNG 3,469 4,034 4,164 4,058 3,920 3,864 3,801 Nguồn: Gold Demand Trend – Full Year 2009, 2010, 2011, 2012, 2013, 2014 - World Gold Council Khai thác mỏ vàng Vàng được khai thác từ quy mô nhỏ đến quy mô lớn trên tất cả các châu lục, trừ Nam Cực. Trong thế kỷ 20, quốc gia khai thác vàng lớn nhất là Nam Phi, nhất là vào khoảng thập niên 70, sản lượng khai thác của quốc gia này đạt hơn 1.000 tấn/năm, chiếm hơn 70% tổng sản lượng vàng được khai thác trên thế giới vào thời điểm đó.
Vị thế này của Nam Phi bị xóa mờ dần trong hai thập kỷ sau đó, và ngày nay, việc khai thác vàng được đa dạng hóa về địa điểm khai thác, không còn tập trung ở Nam Phi nữa (World Gold Coucil, 2009). Tuy nhiên, việc khai thác mỏ tốn kém nhiều chi phí và gây ô nhiễm môi trường. Chi phí cho việc khai thác khá cao và không ổn định do phụ thuộc và đặc thù và tính chất của từng vùng đất có mỏ vàng. Bán ra từ khu vực chính thức Các ngân hàng trung ương và các tổ chức siêu quốc gia là những người nắm giữ vàng nhiều nhất từ hơn 100 năm nay.
Các ngân hàng trung ương bắt đầu trữ vàng từ những năm 1880, khi tiền giấy được đổi thành vàng tại một tỷ giá nhất định. Đỉnh cao là vào những năm 1960, tổng lượng vàng mà các ngân hàng trung ương dự trữ đạt hơn 38.000 ngàn tấn và tương đương khoảng 50% lượng vàng đang lưu hành lúc đó (World Gold Coucil, 2009). 10 Theo số liệu của Hội đồng Vàng Thế giới WGC tại đồ thị 1.1, lượng vàng dự trữ của các quốc gia trên thế giới có xu hướng giảm từ năm 2000 đến 2007. Tuy nhiên, từ 2007, các quốc gia lại tăng cường mua vàng để bổ sung cho nguồn dự trữ của mình.1: Dự trữ vàng của các quốc gia trên thế giới Nguồn: World Gold Council (2014) Tái chế vàng Nguồn cung vàng lớn thứ hai đến từ việc tái chế các sản phẩm vàng, chủ yếu là các loại trang sức vàng, chỉ một lượng ít vàng được tái chế từ các sản phẩm điện tử.
Nguồn cung vàng tái chế phụ thuộc phần lớn vào tình trạng của nền kinh tế và biến động của giá vàng (World Gold Coucil, 2009). Cầu vàng Nhu cầu tiêu thụ vàng trên thế giới tập trung ở ba mảng lớn, đó là vàng dùng để làm trang sức, vàng phục vụ cho lĩnh vực công nghệ và vàng để đầu tư (World Gold Coucil, 2009). Tuy nhiên, từ năm 2010, các ngân hàng trung ương trên thế giới gia 11 tăng mua vàng để bổ sung vào nguồn dự trữ chính thức của mình nên đây cũng là một nguồn cầu vàng đáng kể.2: Nhu cầu vàng trên thế giới Đơn vị tính: tấn STT Nguồn cầu 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 1 Trang sức 2,138 1,814 2,017 1,974 2,007 2,385 2,153 2 Công nghệ 430 410 466 453 415 408 389 2.2 Ngành công nghiệp khác 87 82 91 90 92 93 88 2.3 Nha khoa 54 53 49 43 39 36 34 3 Đầu tư 1,091 1,402 1,583 1,910 1,623 885 905 Tổng cầu vàng thoi và 3.