chương 1 giới thiệu tổng quan về tài chính công và quản lý tài chính công, chương 2 trình bày về quản lý ngân sách nhà nước, chương 3 cung cấp kiến thức về quản lý thu ngân sách nhà nước,. Và một số nội dung chương khác, mời các bạn cùng tham khảo tài liệu để nắm bắt nội dung chi tiết. Luận văn thạc sĩ “Tăng cường quản lý tài sản công tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang” của tác giả Nguyễn Văn Điều, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, năm 2015 đã khái quát được lý luận về quản lý, quản lý tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp công lập, đồng thời tác giả luận văn cũng đánh giá được thực trạng quản lý tài sản công tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang, những ưu điểm, hạn chế của của đơn vị sự nghiệp đặc thù, đồng thời đưa ra những giải pháp để hoàn thiện công tác quản lý này tại Bệnh viện đơn vị sự nghiệp đặc thù. Luận văn thạc sĩ “Quản lý tài sản công tại các cơ quan thuộc UBND huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Xuân, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, năm 2015 đã khái quát được lý luận về quản lý, quản lý tài sản.
Khái quát được đặc thù của các cơ quan trực thuộc UBND huyện Yên Dũng , Luận văn đánh giá được thực trạng quản lý tài sản công tại các đơn vị này, đánh giá được kết quả đạt được, đồng thời chỉ ra những hạn chế cần khắc phục từ đó đua gia những nhóm giải pháp phù hợp với tình hình thự tế tại địa phương. Đề tài “Chiến lược đổi mới cơ chế quản lý TSC giai đoạn 2001-2010”, năm 2000, đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ của PGS.TS Nguyễn Văn Xa đã 6 z đánh giá thực trạng tình hình quản lý, sử dụng toàn bộ TSC (trong đó có TSC trong khu vực HCSN ở Việt Nam) từ năm 1995 đến năm 2000, từ đó đề ra những giải pháp nhằm đổi mới cơ chế quản lý TSC trong khu vực HCSN đến năm 2010. Tuy vậy, do yếu tố thời gian, hệ thống số liệu của đề tài đã trở nên lạc hậu, mặt khác trong đề tài này, việc nghiên cứu cơ chế quản lý TSC giữa CQHC và ĐVSN chưa được tách bạch. Đề tài “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp, 2002” đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ của TS Phạm Đức Phong đã tập trung chủ yếu nghiên cứu về cơ chế quản lý TSC đối với các tài sản phục vụ trực tiếp cho hoạt động trong các lĩnh vực giáo dục- đào tạo, khoa học công nghệ, y tế, văn hoá thể thao, là khâu đột phá của công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.
Song trong công trình này, tác giả cũng chưa quan tâm đánh giá hiệu quả, hiệu lực của cơ chế quản lý TSC tại các ĐVSN. Đề tài “Đổi mới cơ chế quản lý TSNN tại ĐVSNCL, 2012”, đề tài nghiên cứu cấp khoa học cấp bộ của Bộ Tài chính đề tài đã tập trung chủ yếu nghiên cứu về cơ chế quản lý, cũng chưa tập trung sâu đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng TSNN tại ĐVSNCL. Đánh giá các công trình nghiên cứu và khoảng trống khoa học của đề tài luận văn Các công trình nghiên cứu phần nào đã chỉ ra tầm quan trọng to lớn của công tác quản lý nói chung và công tác quản lý tài sản công tại các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp nói riêng. Quản lý tài sản công là công cụ hữu ích được dùng để xác định giá trị kinh tế, để đánh giá các mặt mạnh, các mặt yếu của một của các cơ quan hành chính, tìm ra nguyên nhân khách quan và chủ quan từ đó giúp cho nhà quản lý lựa chọn và đưa ra được những quyết định phù hợp với thực trạng hoạt động của cơ quan đơn vị.
7 z Tóm lại, có khá nhiều công trình nghiên cứu đã tiếp cận và đi vào nghiên cứu sâu về từng vấn đề như: phân tích về thực trạng quản lý tài sản công của một đơn vị cụ thể; của nhiều đơn vị trên một địa bàn, của từng đơn vị hành chính hay từng đơn vị sự nghiệp phụ vụ công. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt và hệ thống về đề tài quản lý tài sản công tại Ủy ban giám sát tài chính Quốc gia. Chính vì thế tác giả nghiên cứu đề tài này là cần thiết và có tính mới. Các công trình nghiên cứu ở trên có giá trị tham khảo quý báu đối với tác giả trong quá trình thực hiện luận văn thạc sỹ này.
Cơ sở lý luận về quản lý tài sản công trong cơ quan hành chính 1. Một số khái niệm 1. Cơ quan hành chính Cơ quan hành chính nhà nước là: “Một loại cơ quan Nhà nước thực hiện quyền hành pháp bao gồm chức năng lập quy và chức năng hành chính”. Hệ thống các cơ quan hành chính bao gồm: - Cơ quan lập pháp: Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp.
Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội, đối ngoại; nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh; những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân. Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước. Các cơ quan của Quốc hội gồm: Ủy ban thường vụ quốc hội; Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội. Hội đồng nhân dân được quy định là cơ quan quyền lực địa phương không có quyền lập pháp.
- Cơ quan tư pháp: Là các cơ quan có quyền phán xét tính hợp hiến, hợp pháp của các quyết định pháp luật và sự phán quyết về hành vi phạm tội, 8 z tranh chấp dân sự, kinh tế, lao động, hành chính. Hệ thống cơ quan tư pháp gồm các cơ quan thuộc Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân. - Cơ quan hành pháp: Đó là các cơ quan thực hiện quyền hành pháp của nhà nước, quản lý chung hay từng mặt công tác, có nhiệm vụ chấp hành pháp luật và chỉ đạo thực hiện chủ trương, kế hoạch của Nhà nước. Hệ thống các cơ quan hành pháp bao gồm các cơ quan thực hiện quyền hành pháp ở trung ương như Chính phủ, Bộ, ngành.; cơ quan thực hiện quyền hành pháp ở địa phương là UBND các cấp và các cơ quan hành chính giúp việc có chức năng quản lý nhà nước ở địa phương nhằm bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác từ trung ương đến cơ sở (như cơ quan tài chính, giáo dục, y tế, tài nguyên - môi trường, xây dựng.
Các cơ quan chuyên môn chịu sự chỉ đạo và quản lý của UBND đồng cấp, đồng thời chịu sự chỉ đạo về nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn cấp trên. Tài sản công Bất cứ một quốc gia nào muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào một trong các nguồn nội lực của mình là tài sản quốc gia. Đó là tất cả những tài sản do các thế hệ trước để lại hoặc do con người đương thời sáng tạo ra và các tài sản do thiên nhiên ban tặng cho con người. Trong phạm vi một đất nước, tài sản quốc gia có thể thuộc sở hữu riêng của từng thành viên hoặc nhóm thành viên trong cộng đồng quốc gia hoặc thuộc sở hữu nhà nước gọi là tài sản công.
Tài sản công là tài sản thuộc sở hữu công cộng hay còn gọi là tài sản thuộc sở hữu toàn dân ở các nước xã hội chủ nghĩa. Tại các nước xã hội chủ nghĩa, Nhà nước đại diện quyền lợi cho toàn dân nên là người đại diện sở hữu đối với toàn bộ những tài sản thuộc sở hữu toàn dân. Do đó khái niệm tài sản công và tài sản nhà nước là đồng nhất. Trong khuôn khổ giới hạn, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu tài sản công dưới dạng vật chất.
9 z Ở Việt Nam theo Luật quản lý, sử dụng tài sản công có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2018 thì Tài sản công là tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, bao gồm: tài sản công phục vụ hoạt động quản lý, cung cấp dịch vụ công, bảo đảm quốc phòng, an ninh tại cơ quan, tổ chức, đơn vị; tài sản kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng; tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân; tài sản công tại doanh nghiệp; tiền thuộc ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, dự trữ ngoại hối nhà nước; đất đai và các loại tài nguyên khác. Theo giáo trình tổ chức và nhân sự hành chính nhà nước thì: “Công sản gồm tất cả các tài sản (động sản và bất động sản) thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý để sử dụng vào mục đích phục vụ lợi ích của Nhà nước, lợi ích của toàn dân”. Từ những cách hiểu nêu trên, có thể cho rằng: Tài sản công là những tài sản được đầu tư, mua sắm từ nguồn NSNN hoặc có nguồn gốc từ NSNN; tài sản được các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tài trợ, đóng góp, hiến, tặng, cho Nhà nước; tài sản được xác lập quyền sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật; tài sản của các chương trình, dự án kết thúc chuyển giao cho Nhà nước; đất đai, tài nguyên trong lòng đất, rừng tự nhiên, rừng trồng có nguồn vốn từ NSNN, núi, sông hồ, nguồn nước, nguồn lợi tự nhiên ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời; tài sản kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia mà pháp luật quy định là của Nhà nước; phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp hoặc đầu tư ra nước ngoài được Nhà nước giao cho tổ chức, cá nhân trực tiếp quản lý, sử dụng theo chế độ quản lý chung của Nhà nước và chịu sự kiểm tra giám sát của Nhà nước trong quá trình quản lý, sử dụng tài sản. Tài sản công trong khu vực hành chính 10 z Tài sản công trong khu vực hành chính là một bộ phận tài sản công mà Nhà nước đã giao cho các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp và các tổ chức quản lý, sử dụng phục vụ cho hoạt động của từng cơ quan, đơn vị theo chức năng nhiệm vụ được giao.