phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý tài chính tại đơn vị sự nghiệp công Chƣơng 2: Thực trạng quản lý tài chính tại Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS thuộc Sở Y tế Hà Nội. Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp về tăng cƣờng việc quản lý tài chính tại Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS thuộc Sở Y tế Hà Nội. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG 1.1 Một số vấn đề về đơn vị sự nghiệp công và tài chính của đơn vị sự nghiệp công 1. Đơn vị sự nghiệp công: Quan niệm, đặc điểm, vai trò và phân loại 1.Quan niệm và đặc điểm đơn vị sự nghiệp công lập Đơn vị sự nghiệp công lập là những tổ chức đƣợc thành lập để thực hiện các hoạt động sự nghiệp.
Hoạt động sự nghiệp là những hoạt động cung cấp dịch vụ công cho xã hội nhằm duy trì và đảm bảo sự hoạt động bình thƣờng của xã hội. Hoạt động sự nghiệp không trực tiếp tạo ra của cải vật chất nhƣng nó tác động trực tiếp tới lực lƣợng sản xuất và quan hệ sản xuất, có tính quyết định năng suất lao động xã hội. Những hoạt động sự nghiệp mang tính chất phục vụ là chủ yếu và không nhằm mục tiêu lợi nhuận. Đơn vị sự nghiệp công lập đƣợc xác định dựa trên những tiêu chuẩn sau: - Có văn bản quyết định thành lập đơn vị sự nghiệp của cơ quan có thẩm quyền ở Trung ƣơng hoặc địa phƣơng.
- Đƣợc nhà nƣớc cấp kinh phí và tài sản để hoạt động thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn và đƣợc phép thực hiện một số khoản thu phí, lệ phí theo chế độ Nhà nƣớc quy định. - Có tổ chức bộ máy biên chế và bộ máy quản lý kế toán theo chế độ nhà nƣớc quy định - Có mở tài khoản tại kho bạc nhà nƣớc để kiểm soát các khoản thu, chi tài chính. Các đơn vị sự nghiệp công lập có những đặc điểm cơ bản sau: Đơn vị sự nghiệp công lập là những tổ chức hoạt động theo nguyên tắc phục vụ xã hội, không vì mục tiêu lợi nhuận. Khác với hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động sự nghiệp cung ứng dịch vụ cho nền kinh tế nhƣng mục đích chính không phải vì mục tiêu lợi nhuận.
Nhà nƣớc duy trì, tổ chức, tài trợ cho các hoạt động sự nghiệp để cung cấp dịch vụ cho thị trƣờng trƣớc hết nhằm thực hiện vai trò của nhà nƣớc trong việc phân phối lại thu nhập và 9 thực hiện chính sách phúc lợi công cộng khi can thiệp vào thị trƣờng. Nhờ đó, nhà nƣớc hỗ trợ cho các ngành kinh tế hoạt động bình thƣờng, nâng cao dân trí, bồi dƣỡng nhân tài, đảm bảo và phát triển nguồn nhân lực, thúc đẩy hoạt động kinh tế phát triển và ngày càng đạt hiệu quả cao hơn, đảm bảo không ngừng nâng cao đời sống, sức khỏe, văn hoá và tinh thần của nhân dân. Kết quả của hoạt động sự nghiệp chủ yếu là tạo ra các dịch vụ công, phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp quá trình tái sản xuất xã hội. Nhờ việc sử dụng các hàng hóa công cộng do hoạt động sự nghiệp tạo ra mà quá trình tái sản xuất ra của cải vật chất trong xã hội đƣợc thuận lợi và ngày càng đạt hiệu quả cao.
Hoạt động sự nghiệp giáo dục đào tạo, y tế, thể dục, thể thao mang đến tri thức và đảm bảo sức khoẻ cho lực lƣợng lao động, tạo điều kiện cho nguồn nhân lực có chất lƣợng ngày càng tốt hơn. Hoạt động sự nghiệp khoa học, văn hóa mang lại những hiểu biết về tự nhiên, xã hội, tạo ra những công nghệ mới phục vụ sản xuất và đời sống. Vì vậy, hoạt động sự nghiệp luôn gắn bó hữu cơ và tác động tích cực tới quá trình tái sản xuất xã hội. Hoạt động sự nghiệp trong các đơn vị sự nghiệp công lập luôn gắn liền và bị chi phối bởi các chƣơng trình phát triển kinh tế xã hội của nhà nƣớc Trong nền kinh tế thị trƣờng, nhà nƣớc tổ chức, duy trì hoạt động sự nghiệp để đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội.
Để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế xã hội nhất định, trong mỗi thời kỳ, nhà nƣớc có các chủ trƣơng, chính sách, có các chƣơng trình mục tiêu kinh tế xã hội nhất định nhƣ : chƣơng trình xoá mù chữ, chƣơng trình xóa đói giảm nghèo, chƣơng trình dân số-kế hoạch hoá gia đình, chƣơng trình phòng chống AIDS. Các chƣơng trình này chỉ có nhà nƣớc, với vai trò của mình mới có thể thực hiện một cách đầy đủ và hiệu quả. Nhà nƣớc duy trì và phát triển các hoạt động sự nghiệp gắn với các chƣơng trình mục tiêu quốc gia, các chƣơng trình phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc nhằm mang lại lợi ích cho ngƣời dân.Vai trò của đơn vị sự nghiệp công lập Hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập là một bộ phận của nền kinh tế và có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế. Trong thời gian qua, các đơn vị sự nghiệp công đã có nhiều đóng góp cho sự ổn định và phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc, thể hiện: 10 Thứ nhất, cung cấp các dịch vụ công về giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục, thể thao …có chất lƣợng cao cho xã hội, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân, góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân.
Thứ hai, thực hiện các nhiệm vụ chính trị đƣợc giao nhƣ: đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực có chất lƣợng và trình độ cao; khám chữa bệnh, bảo vệ sức khỏe ngƣời dân, nghiên cứu và ứng dụng các kết quả khoa học, công nghệ; cung cấp các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật. phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. Thứ ba, đối với từng lĩnh vực hoạt động sự nghiệp, các đơn vị sự nghiệp công lập đêu có vai trò chủ đạo trong việc tham gia đề xuất và thực hiện các đề án, chƣơng trình lớn phục vụ sự phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc. Thứ tƣ, thông qua hoạt động thu phí, lệ phí theo quy định của nhà nƣớc đã góp phần tăng cƣờng nguồn lực, đẩy mạnh đa dạng hóa và xã hội hóa nguồn lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội.
Thực hiện chủ trƣơng xã hội hóa hoạt động sự nghiệp của nhà nƣớc, trong thời gian qua các đơn vị sự nghiệp ở tât cả các lĩnh vực đã tích cực mở rộng các loại hình, phƣơng thức hoạt động, một mặt đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân. Đồng thời qua đó cũng thực hiện xã hội hóa bằng cách thu hút sự đóng góp của nhân dân đầu tƣ cho sự phát triển của hoạt động sự nghiệp.3 Phân loại đơn vị sự nghiệp công Đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm vê tài chính là các đơn vị sự nghiệp do cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền quyết định thành lập (đơn vị dự toán độc lập, có con dâu và tài khoản riêng, tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của luật kế toán). Căn cứ vào nguồn thu sự nghiệp, đơn vị sự nghiệp công đƣợc phân thành 3 loại đơn vị thực hiện quyền tự chủ vê tài chính: - Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thƣờng xuyên (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động) - Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thƣờng xuyên, phần còn lại đƣợc NSNN cấp (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động) - Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp, đơn vị sự nghiệp không có nguồn thu, kinh phí hoạt động thƣờng xuyên theo chức năng, nhiệm vụ do NSNN bảo đảm toàn bộ 11 kinh phí hoạt động (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp do NSNN bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động) Việc xác định khả năng tự trang trải chi phí hoạt động thƣờng xuyên của đơn vị sự nghiệp có thu dựa trên chỉ tiêu sau: Mức tự bảo đảm chi phí Tổng số nguồn thu sự nghiệp hoạt động thƣờng xuyên = .x 100 % của đơn vị (%) Tổng số chi hoạt động thƣờng xuyên Đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động là đơn vị sự nghiệp có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thƣờng xuyên bằng hoặc lớn hơn 100%, nhà nƣớc không phải dùng ngân sách để cấp kinh phí hoạt động thƣờng xuyên cho đơn vị. Đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động là đơn vị sự nghiệp có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thƣờng xuyên từ trên 10% đến dƣới 100%.
Nhà nƣớc vẫn phải cấp một phần kinh phí hoạt động thƣờng xuyên cho đơn vị. Đơn vị sự nghiệp do NSNN bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động là đơn vị sự nghiệp có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thƣờng xuyên từ 10% trở xuống. Áp dụng đối với đơn vị sự nghiệp có nguồn thu thấp hoặc không có nguồn thu, nhà nƣớc phải cấp toàn bộ kinh phí hoạt động thƣờng xuyên cho đơn vị. Tài chính tại đơn vị sự nghiệp công: Quan niệm, đặc điểm và vai trò 1.
Quan niệm về tài chính của các đơn vị sự nghiệp công Tài chính của đơn vị SNC với tƣ cách là bộ phận cấu thành quan trọng của tài chính công nói riêng và tài chính nhà nƣớc nói chung, có thể khái quát khái niệm về tài chính của đơn vị SNC nhƣ sau: Tài chính của đơn vị sự SNC là một phạm trù kinh tế, phản ánh mối quan hệ giữa các đơn vị thuộc khu vực SNC với nhà nước và các chủ thể khác trong quá trình hình thành, phân bổ và sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm thực hiện và hoàn thành các nhiệm vụ mà nhà nước giao cho các đơn vị thuộc khu vực SNC. Tài chính trong là đơn vị SNC phản ánh các khoản thu, chi bằng tiền của các quỹ tiền tệ trong các đơn vị SNC. Xét về hình thức nó phản ánh sự vận động và chuyển hóa của các nguồn lực tài chính trong quá trình sử dụng các quỹ bằng tiền. Xét về bản chất nó là những mối quan hệ tài chính biểu hiện dƣới hình thức giá trị phát 12 sinh trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ bằng tiền nhằm phục vụ cho hoạt động chung của đơn vị.