Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý tài chính trong hoạt động khoa học công nghệ. Phương pháp nghiên cứu Chương 3. Thực trạng quản lý tài chính trong hoạt động khoa học công nghệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội Chương 4.
Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tài chính trong hoạt động khoa học công nghệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội Kết luận 4 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Vấn đề về quản lý tài chính trong Giáo dục Đại học Các công trình nghiên cứu về tài chính công là khá đa dạng được bổ sung, cập nhật qua thời gian. Năm 1979, Alan [19] đã cho tái bản lần thứ sáu cuốn sách của mình về tài chính công “Tài chính công – Lý thuyết và thực tiễn”.
Những nội dung cơ bản nhất về tài chính công được tác giả bàn khá chi tiết. Một số vấn đề thực tiễn tài chính công ở Anh đã được đưa ra phân tích và lồng ghép vào các nội dung lý thuyết. Ba mươi năm sau, với cùng tên sách là “Tài chính công – Lý thuyết và thực tiễn”, tác giả Holley (2007) [20] cũng cho tái bản lần thứ hai cuốn sách của mình. Holley đưa ra những vấn đề thực tiễn mới về tài chính công ở Mỹ.
Những công trình nghiên cứu về tài chính công ngoài nước, đặc biệt ở Mỹ, Anh, mang tính học thuật cao (kể cả sách được xuất bản hay các bài viết báo, tạp chí). Trong các nghiên cứu đó, khi đưa vấn đề thực tiễn vào phân tích các tác giả cũng đưa vấn đề giáo dục công lập và tài chính cho giáo dục công lập. Tuy nhiên, việc phân tích như vậy chỉ mang tính minh họa cho lý thuyết về tài chính công. Các quốc gia như Mỹ, Anh và Úc có mô hình giáo dục công khá độc lập giữa các bang hay các vùng.
Mỗi vùng có những chính sách riêng giáo dục công, chính vì thế họ đều xây dựng các khung khổ và chính sách giáo dục cho riêng họ. Năm 2007, Hội đồng chính quyền vùng Hampshire Anh đưa ra khung khổ nguyên tắc quản lý tài chính cho các trường học công lập các cấp [27]. Một số công trình lồng ghép lý thuyết về tài chính công vào quản lý tài chính 5 z cho giáo dục có thể kể đến nghiên cứu về quản lý và kiểm soát tài chính đối với giáo dục đại học của Malcolm Prowle và Eric Morgan (2005) [23]. Cuốn sách này được coi là cẩm nang nghề nghiệp của những người quản lý tài chính trong các trường đại học ở Mỹ.
Nghiên cứu chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt về các điều kiện chính trị, văn hóa, kinh tế - xã hội, môi trường gắn với vấn đề quản lý tài chính trong cơ sở giáo dục. Các nước nghiên cứu gồm: Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Philipin, Singapore, Thái Lan, Việt Nam. Công trình nhấn mạnh tầm quan trọng sự hỗ trợ của nhà nước trong việc gia tăng cạnh tranh của giáo dục đại học quốc gia trong bối cảnh mới. Marianne, Coleman&Lesley Anderson (2000) [24] đã tập trung phân tích một số nội dung chủ yếu sau: quan niệm về nguồn lực giáo dục, các phương pháp quản lý nguồn lực.
Bài báo cũng đi sâu phân tích thực trạng quản lý các nguồn lực giáo dục đại học, nhấn mạnh tầm quan trọng của các nguồn lực tài chính, các loại hình hợp tác quốc tế về giáo dục đại học, nghiên cứu so sánh các chính sách hiện hành và các chính sách khuyến nghị cũng như những điều cần làm để cải thiện tình hình quản lý tài chính trong giáo dục đại học, mở rộng đối tượng nghiên cứu không chỉ tài chính mà các nguồn lực khác cho giáo dục.C (1997) [28] tiếp cận theo cách phân tích chi phí lợi nhuận để đưa ra chính sách hoặc đánh giá chính sách trong lĩnh vực giáo dục. Nhìn chung, các công trình theo hướng này mang tính ứng dụng, tác nghiệp, đôi chỗ có lồng ghép lý thuyết tài chính công. Trong bài “Phân tích sự gia tăng chi phí GDĐH” của các tác giả Robert B.Archibald và David H. Feldman (2006) [26] đã so sánh việc tăng chi phí GDĐH với việc tăng giá thành sản xuất sản phẩm của một số ngành công nghiệp và dịch vụ khác, phân tích vấn đề chi phí và các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí GDĐH.
Gia tăng chi phí được các tác giả phân tích như một gánh nặng mà người học phải gánh chịu. Một trong những lý do đáng nói là sự 6 z chậm tăng năng suất trong dịch vụ sẽ đặt áp lực lên việc tăng giá dịch vụ bên cạnh áp lực về tăng lương, chi phí bảo hiểm cho lao động có trình độ cao. Một số đề xuất như tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, điều chỉnh quy mô, hình thức tổ chức lớp học hay kiểm soát chặt chẽ chi phí có thể kiểm soát vấn đề trên nhưng không phải dễ dàng. Riêng trong vấn đề kiểm soát chi tiêu bằng cách hạn chế doanh thu của các trường đại học có thể dẫn đến những tác dụng phụ không mong muốn.
Bruce Johnstone (2006) [10] cho rằng: “Tài chính là nền tảng chi phối phần lớn ba chủ đề bao quát về chính sách GDĐH hiện đại: chất lượng, và mối quan hệ giữa việc cấp chi phí và chất lượng ở bất cứ khía cạnh nào của nó; sự nhập học, hay việc tìm kiếm công bằng xã hội ở những người được hưởng lợi ích và những người phải chi trả cho GDĐH; và hiệu quả, hay việc tìm kiếm một mối quan hệ về hiệu suất chi phí giữa các nguồn thu nhập và các sản phẩm đầu ra”. Về việc cung cấp tài chính cho GDĐH, cần xem xét ba vấn đề lớn: Quy mô đầu tư cho GDĐH của quốc gia, hiệu quả và năng suất của GDĐH, các nguồn thu nhập để hỗ trợ cho GDĐH. Trong đó, vấn đề chi phí đơn vị có sự khác biệt lớn và lạm phát trong chi phí đôi khi tăng hơn mức bình thường. Trong báo cáo nghiên cứu về “Hiệu quả của GDĐH công: tiếp cận hai giai đoạn đa quốc gia”, các tác giả Joanna Wolszczak-Derlacz và Aleksandra Parteka (2011) [22] đã đưa ra những nhận định về các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của nhà trường sau khi tiến hành nghiên cứu 259 trường đại học thuộc 7 quốc gia châu Âu.
Nghiên cứu sử dụng hai thông số kỹ thuật phân tích, lần đầu bao gồm hai kết quả đầu ra (ấn phẩm và số sinh viên tốt nghiệp) và ba yếu tố đầu vào (số lượng đội ngũ, quy mô sinh viên và kinh phí) và lần thứ hai với hai kết quả đầu ra như trên và hai đầu vào (số lượng đội ngũ và kinh phí). Quy mô sinh viên, số lượng các khoa, nguồn kinh phí, thành phần đội ngũ và bề dày truyền thống được tác giả cho rằng là những 7 z nhân tố quyết định hiệu suất của các đơn vị. Về tài chính, mức đầu tư của các nguồn bên ngoài cao hơn sẽ nâng cao hiệu quả của tổ chức. Các tác giả cũng kết luận rằng, do hiệu quả khác biệt giữa các trường trong mỗi quốc gia nên việc chỉ ra quốc gia nào có thể là chuẩn mực cho các quốc gia khác là không khả thi.
Trong “Tài chính cho GDĐH - xu hướng và vấn đề”, Arthur M.Hauptman Arlington, Virginia đã nêu một số khái niệm vĩ mô về chính sách tài chính GDĐH như mức độ hỗ trợ tổng thể các nguồn lực cho GDĐH, tỷ lệ hoàn vốn, mức độ đầu tư và tham gia của nhà nước. Ông phản ánh những quan điểm đang thay đổi trên thế giới và sự tác động đến sự phát triển của quốc gia. Trong đó là các vấn đề yêu cầu ngày càng tăng trên cơ sở tỷ lệ hoàn vốn đang tăng, sự tăng trưởng không đồng đều giữa quy mô đào tạo và nguồn lực, kêu gọi tăng cường tính trách nhiệm, việc tư nhân hóa và cơ chế thị trường. Báo cáo về “GDĐH Việt Nam - khủng hoảng và trách nhiệm” tháng 11-2008 của chương trình châu Á - Trường Harvard Kennedy, thông qua kinh nghiệm hợp tác từ Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright tại Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM), đã nêu lên các vấn đề gốc rễ trong khủng hoảng GDĐH ở Việt Nam và tầm quan trọng của việc đổi mới thể chế, trong đó vấn đề tự chủ và trách nhiệm được nêu ra như là yếu tố cơ bản.
Báo cáo cũng đề cập cơ chế trả lương cho viên chức giảng dạy. Trong “Cải cách quản trị đại học: Khả năng tự chủ nhiều hơn?”, Tom Christensen (2011) [30] bàn về những xu hướng cải cách quản lý công trong giáo dục qua các giai đoạn khác nhau. Tự chủ đại học hiện nay được chuyển từ tự chủ hình thức ở cấp độ thấp sang tự chủ thực sự ở mức cao hơn. Vấn đề này dựa trên hai yếu tố, một là thay đổi những quan điểm về tổ chức, văn hóa và môi trường nội tại, hai là phác thảo xu hướng cải cách nhà trường.
Nhiều trường đại học đã chủ động tìm cách khai thác các nguồn tài chính thay vì phụ thuộc vào sự bảo trợ từ tài chính công như trước đây. Với “Tự chủ tài chính trong GDĐH” tác giả 8 z Vuokko Kohtamaki (2009) [29] tiến hành nghiên cứu ở các trường thuộc tổ chức GDĐH AMK Phần Lan, đã phân tích về mức độ tự chủ tài chính, mối quan hệ với cơ quan chủ quản là Bộ Giáo dục và cơ chế kiểm soát của cơ quan quản lý với cơ sở GDĐH. Nguồn lực hoạt động và quyền tự chủ rất quan trọng đối với trường đại học, song tự chủ tài chính là một hiện tượng phức tạp và thuộc các quy phạm hành chính. Nghiên cứu còn đề cập mối tương quan giữa cơ chế tự chủ nguồn lực tài chính với sự phát triển các ngành và quy mô đào tạo của các trường.
Vào những năm 60 của thế kỷ thứ XX, hai nhà khoa học Mỹ là Robert S. McNamara và Charles J. Hitch đã đề xuất cơ chế phân bổ và quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra. Tuy nhiên, nó chỉ được áp dụng rộng rãi từ những năm 90 trở lại đây ở các nước phát triển, đặc biệt là châu Âu.
Để có cái nhìn cụ thể, có thể xem trường hợp của Ireland, các chương trình hoặc dự án nghiên cứu phải có báo cáo giải trình với nhiều nội dung cụ thể trong đó phải nêu được sứ mệnh hoặc mục tiêu nghiên cứu, các chỉ tiêu có thể đo lường được gắn với mục tiêu nghiên cứu.