Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu trên thế giới Có thể thấy các nghiên cứu nước ngoài liên quan đến quản lý nhà nước về tài chính đất đai không nhiều. Trong Luận án tác giả tổng hợp một số nghiên cứu cụ thể như sau: *Các khái niệm về tài chính đất đai Trong tác phẩm Chỉ dẫn quản lý đất đai cho các nước trong quá trình chuyển đổi (Land Administration guidlines with special referance to countries in trasition - 1996) [79], Liên hợp quốc lần đầu tiên đưa ra khái niệm: “tài chính đất đai (land finance) là giá trị đất đai cần được quản lý trong một nền kinh tế thị trường”. Cuốn sách này cũng đề ra các chỉ dẫn cụ thể cho các nước chuyển đổi trong quản lý đất đai, hình thành các khuôn khổ luật pháp về đất đai, kế hoạch sử dụng đất đai và tài chính đất đai.
Trong vấn đề tài chính đất đai, Liên hợp quốc đã tìm hiểu, xem xét các vấn đề về giá trị và định giá đất đai, thuế đất đai và tài sản, thị trường đất đai và bất động sản, chi phí và lợi ích trong quản lý đất đai, các nguồn tài chính từ đất đai. Liên hợp quốc cho rằng có 3 nguồn tài chính cơ bản từ đất đai đó là: các khoản thu từ thuế đất (tax), phí liên quan đến đất (fees) và nghĩa vụ của người dân chi trả cho các dịch vụ từ đất đai (commission)”. Đối với các nước đang phát triển, khái niệm tài chính đất đai là khái niệm còn mới và chưa thống nhất. Lý giải cho điều này theo Richard M Bird and Enid Slack [77]: “đất đai còn chiếm một tỷ lệ nhỏ trong nguồn thu ngân sách của các nước đang phát triển” và “đánh giá giá trị đất đai là công việc hết sức khó khăn”.
*Về chính sách quản lý đất đai Gershon Fedor [71], “Các thể chế và thị trường đất đai”. Tổng hợp thể chế về luật đất đai và thị trường đất đai của các nước kinh tế phát triển mà điển hình là các nước châu Âu. Những quy định về vai trò của Nhà nước trong việc thực thi các điều kiện, can thiệp vào thị trường đất đai cho các đối tác nước ngoài. Huy động các nguồn lực tài chính từ đất đai để phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Các điều luật cụ thể về quản lý các vùng đất giàu tài nguyên. “Chính sách về đất đai” (Land policy) (2003) và “Chính sách sử dụng đất của địa phương và sự khuyến khích đầu tư” (Local land use policy and investment incentives) [70] của Ngân hàng Thế giới, là những nghiên cứu đưa ra chính sách quản lý đất đai luan an 6 (QLĐĐ), cảnh báo về những quy định, phương thức quản lý và sử dụng đất của chính quyền địa phương có thể làm ảnh hưởng đến tốc độ và kiểu mẫu phát triển đô thị, cũng như sức ép của các quy định pháp luật đối với các nhà hoạch định chính sách có thể làm thay đổi những tác động được mong đợi trong quản lý và sử dụng đất như thế nào? “Những chính sách đất đai cho phát triển và xóa đói giảm nghèo” (Land policies for growth and poperty reduction) [74] của Ngân hàng thế giới là công trình nghiên cứu về mối liên hệ giữa chính sách quản lý nhà nước về tài chính đất đai, khuynh hướng sử dụng đất ảnh hưởng đến phát triển và nghèo đói của các nước đang phát triển, các giải pháp khuyến nghị nhằm xóa đói giảm nghèo, thúc đẩy phát triển bền vững. - Về giá đất, theo Ngân hàng Thế giới, UK-Aid, DEPOCEN [76] trong Báo cáo khảo sát tình hình Công khai thông tin trong quản lý đất đai, có đưa ra: Mục đích của định giá đất: Tùy theo mục đích quản lý mà các nước có mục đích khác nhau trong định giá đất đai. Về cơ bản mục đích của định giá đất của các nước là: (i) Làm cơ sở để tính thuế đất, thuế chuyển nhượng đất; (ii) Làm cơ sở để tiến hành bồi thường khi nhà nước thu hồi hoặc chiếm đoạt đất cho các mục đích công; (iii) tiến hành các hoạt động cải tạo, nâng cao giá trị của đất; (iv) Giải quyết các tranh chấp về đất đai.
Hình thức giá: Qua nghiên cứu cho thấy, hầu hết các nước trên thế giới đều sử dụng giá thị trường làm cơ sở để xác định giá đất. Cơ quan thẩm định giá, kiểm soát giá đất: Trong tổng số 27 nước có quy định về định giá đất: có 12 nước không có quy định về cơ quan, tổ chức định giá đất; Có 9 nước có quy định Nhà nước có vai trò trong định giá đất; 4 nước quy định cơ quan định giá độc lập và chỉ có nước Úc quy định cả Nhà nước và cơ quan độc lập có vai trò trong định giá đất. Nguyên tắc và phương pháp xác định giá: Có 4 phương pháp định giá cơ bản hiện nay đang được áp dụng trên thế giới là: Phương pháp so sánh, phương pháp thu nhập, phương pháp chiết trừ và phương pháp thặng dư (Việt Nam cũng đang sử dụng các phương pháp này). - Về thuế đất: Trong tác phẩm “Land and poverty taxation: a review” (đất đai và thuế bất động sản” [78], thuế đất đai được định nghĩa là các nguồn thu của chính quyền địa phương luan an 7 có được từ đất đai và bất động sản, trong đó có cả đất ở, đất nông nghiệp và các loại đất khác.
Owen Connellan trong tác phẩm “Land value taxation in Britain: experience and oppotunities” (Thuế đất đai ở Anh: kinh nghiệm và các cơ hội), NXB Webcom Ltd, Toronto, Canada [80], đã đưa ra khái niệm: thuế đất đai là các loại thuế được áp dụng cho các loại đất đai nhằm đem lại nguồn thu cho chính quyền địa phương. Một số công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp đến chính sách thuế đất của các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam đó là: Jay K. Rosengard đưa ra các nguyên tắc cải tổ trong cải cách thuế bất động sản tại các nước đang phát triển đó là hiệu quả phân bổ và quản lý công bằng theo chiều dọc hoặc chiều ngang và tính bền vững của hệ thống. Điều này tạo ra được nguồn thu một cách bền vững về mặt tài chính, thúc đẩy sự minh bạch trong chính sách và rõ ràng về hành chính; sử dụng các biện pháp khuyến khích dành cho cá nhân và tổ chức, tuyên truyền thông tin cho công chúng; tạo thuận lợi cho thay đổi về chính sách thuế, cơ chế hành chính và hành vi con người; cải thiện dịch vụ, liên kết giữa chính sách với thực tiễn cũng như cơ chế quản lý của nhà nước, thực hiện theo từng giai đoạn.
Tác giả đưa ra kinh nghiệm cải cách về chính sách thuế bất động sản của Indonesia, Philipines, Jamaica … ở đây mới chỉ đề cập đến việc cải cách chính sách thuế về bất động sản, các biện pháp cải cách về chính sách thuế bất động sản để nhằm khuyến khích các tổ chức, cá nhân, liên kết giữa chính sách với thực tế chưa tiếp cận đến vấn đề quản lý nhà nước về các khoản thu từ đất. Nghiên cứu về cải cách hệ thống thuế BĐS, nổi trội trong khu vực là các nghiên cứu về cải cách thuế BĐS của Indonesia. Jay K [81] đã hệ thống các thành công của ngành thuế Indonesia sau 6 năm nghiên cứu hoàn thiện chính sách và cơ chế thuế BĐS trên cơ sở hợp nhất từ 7 luật thuế khác nhau liên quan đến BĐS. Trong nghiên cứu của Dr William J MCCluskey đã giới thiệu một cách có hệ thống chính sách thuế bất động sản ở một số nước trên thế giới đang áp dụng hiện nay.
Ông đưa ra cơ sở tính thuế, ai phải trả thuế, cơ quan nào quản lý thuế bất động sản; tùy theo tính chất của từng loại thuế và pháp luật về xây dựng cơ chế quản lý thuế để các nhà quản lý thuế có thể hoạt động ở cấp quốc gia hay cấp địa phương. Tuy nhiên, tác luan an 8 giả này mới chỉ đề cập đến hệ thống chính sách thuế về bất động sản mà chưa nói đến vấn đề quản lý nhà nước đối với các nguồn tài chính từ đất. Các nghiên cứu nước ngoài phần nào đưa ra được phân tích lý thuyết liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của luận án, đó là các chính sách quản lý của nhà nước, các khái niệm tài chính đất đai. Đây là các nguồn tư liệu giúp luận án hoàn thiện khung phân tích về mặt lý thuyết và tham chiếu với tình hình thực tiễn ở các nước đang phát triển để rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
Tuy nhiên, c̣n rất nhiều vấn đề cần lý giải trong các tài liệu nghiên cứu ngoài nước liên quan đến luận án, chẳng hạn trong các vấn đề tài chính đất đai, vai trò của quản lý nhà nước về chính đất đai trong phát triển kinh tế. Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước Tại Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước là người đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý [33]. Trong những năm qua, các chính sách về đất đai ở nước ta đã có nhiều thay đổi nhằm huy động nguồn lực từ đất đai cho phát triển kinh tế - xã hội. Có thể khẳng định, quá trình nhận thức về vai trò của đất đai có sự chuyển biến rõ rệt từ chỗ coi đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên, tư liệu sản xuất, hàng hóa đặc biệt đến xem xét đất đai là một tài sản, nguồn lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Đáng chú ý, các chính sách liên quan đến tài chính đất đai liên tục được nghiên cứu điều chỉnh nhằm quản lý và điều tiết nhu cầu và lợi ích từ đất đai.