CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CÁC CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRỌNG ĐIỂM CẤP BỘ CỦA TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG 1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu có liên quan Vấn đề quản lý tài chính từ ngân sách nhà nước nói chung và quản lý tài chính cho khoa học và công nghệ tuy không phải vấn đề mới trong quản lý kinh tế ở nước ta, nhưng luôn là nội dung hấp dẫn, luôn thu hút được sự quan tâm của đông đảo các nhà khoa học, quản lý và hoạch định chính sách. Đáng lưu ý có nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh (2008) [24] trong luận án tiến sỹ kinh tế tại Học viện Tài chính về đổi mới quản lý chi ngân sách nhà nước trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam. Tác giả đã đưa ra nhiều nội dung rất quan trọng, thiết thực cần quan tâm trong giai đoạn chuyển đổi, xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, là căn cứ hình thành các tổ chức dịch vụ, các doanh nghiệp KH&CN, khẳng định vai trò đi đầu, là động lực cho tăng trưởng và phát triển của nghiên cứu đổi mới sáng tạo. Bùi Đại Dũng (2007) [8] đã đi sâu nghiên cứu về hiệu quả chi tiêu ngân sách dưới tác động của vấn đề nhóm lợi ích ở một số nước trên thế giới, đưa ra nhiều bài học kinh nghiệm sâu sắc cho nước ta về quản lý tài chính nói chung và quản lý ngân sách nhà nước nói riêng, trong đó có chi sự nghiệp khoa học và công nghệ.
Đây là một công trình công phu và hết sức có giá trị cho nghiên cứu quản lý kinh tế trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay ở nước ta. Đỗ Tiến Dũng (2015) [14] đã thực hiện nghiên cứu đề xuất giải pháp đổi mới tổ chức hoạt động và quản lý tài chính của Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia theo Luật Khoa học và Công nghệ sửa đổi. Trong đó, nhiều nội 5 z dung về chuyển đổi từ cấp phát kinh phí theo năm tài chính sang hình thức cơ chế Quỹ là vấn đề mới, có ý nghĩa đặc biệt trong giai đoạn hiện nay ở nước ta. Cũng đối với nội dung về cơ chế quỹ cho quản lý tài chính về KH&CN, nghiên cứu của Mai Thế Bình (2015) [21] về đổi mới quy trình tổ chức thực hiện đề tài nghiên cứu cơ bản do Quỹ Phát triển KH&CN quốc gia tài trợ phù hợp với Luật Khoa học và Công nghệ 2013 cũng tiếp tục phân tích sâu về phương thức quản lý mới này cho đổi mới quản lý chi từ NSNN cho KH&CN.
Một số công trình của tác giả Hạng Hoài Thanh - Quản lý tài chính Trung Quốc - bản dịch (2002) [15], Lý luận hành chính nhà nước - Học viện Hành chính (2010) [16], Quản lý tài chính công của Học viện Tài chính (2009) [17], Lý thuyết tài chính của Học viện Tài chính (2009) [18]. Trong đó, các khái niệm và thuật ngữ cơ bản liên quan sẽ được sử dụng và phân tích trong luận văn. Các nội dung về chế độ tự chủ về tài chính, biên chế đối với cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập được mô tả tương đối chi tiết với các nội dung quy định cụ thể trong hướng dẫn của Bộ Tài chính (2007) [5]. Tài liệu này là khung hướng dẫn tổng thể, tuy nhiên, cần thường xuyên cập nhật các văn bản liên quan, thay thế.
Công trình luận án tiến sỹ của Nguyễn Văn Nhứt (2004) [23] đã tập trung đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và điều hành ngân sách nhà nước ở cấp chính quyền cơ sở tại Việt Nam. Nội dung về quản lý khoa học và công nghệ chưa được đề cập sâu sắc, tuy nhiên, các vấn đề cơ bản liên quan đến khung pháp lý về quản lý NSNN lại được phân tích, đánh giá rất sâu sắc. Các định hướng giải pháp của tác giả này rất có ý nghĩa trong nhiều lĩnh vực và có thể vận dụng cho quản lý chi đối với các chương trình KH&CN trong luận văn này. Bộ Tài nguyên và Môi trường hiện nay đã thành lập Quỹ phát triển KH&CN của Bộ từ năm 2017 Tuy nhiên, do còn nhiều khó khăn về huy động vốn điều lệ, cơ chế cấp phát kinh phí, nhân lực chuyên trách và kiêm nhiệm và những nguyên 6 z nhân khác nhau, hiện nay Quỹ vẫn chưa đi vào hoạt động.
Đây cũng là một nội dung quan trọng sẽ được đi sâu phân tích trong các chương tiếp theo. Về kinh nghiệm quốc tế cho quản lý ngân sách, đáng lưu ý có nghiên cứu của Lưu Đức Hải (2015) về “Kinh nghiệm quốc tế trong quản lý ngân sách và bài học cho Việt Nam” trên Tạp chí Nghiên cứu khoa học kiểm toán. Công trình đã phân tích tương đối khách quan, sâu sắc từ góc nhìn khoa học, biện chứng cho phép nhìn nhận nhiều vấn đề còn tồn tại trong quản lý tài chính công ở nước ta hiện nay [20]. Trong luận án tiến sỹ của Ngô Thanh Hoàng (2012) [22], các nội dung về hoàn thiện cơ chế lập dự toán ngân sách nhà nước gắn với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội theo khuôn khổ trung hạn ở Việt Nam là nghiên cứu rất công phu, chi tiết về vai trò của kế hoạch trung hạn trong quản lý chi cho các tổ chức sự nghiệp.
Hiện nay, tại các Bộ ngành, địa phương việc triển khai kế hoạch trung hạn 3 năm đã và đang là công cụ hữu hiệu trong lập, phân bổ và chấp hành dự toán ngân sách nhà nước. Các công trình của Phạm Ngọc Dũng, Hoàng Thị Thuý Nguyệt (2008) [26] về quản lý ngân sách nhà nước theo kết quả đầu ra và khả năng ứng dụng ở Việt Nam là một nghiên cứu khá công phu, đưa ra các vấn đề nền tảng về khoán chi đến sản phẩm cuối cùng trong KH&CN, thực hiện tự chủ tại các tổ chức KH&CN. Nghiên cứu của Phan Huy Đường (2014) [25] về quản lý công và Lê Anh Khoa, Trần Phương Liên (2007) [19] từ nhiều góc độ khác nhau về quản lý công, quản lý ngân sách nói chung hoặc từ tiếp cận về quản lý thuế cũng đều đề cập đến nhiều nội dung liên quan đến quản lý tài chính cho các hoạt động khoa học và công nghệ ở nước ta phục vụ cho nghiên cứu. Và nhiều các công trình, văn bản khác liên quan đến Luật Khoa học và Công nghệ ngày 18 tháng 6 năm 2013 [28] là căn cứ, cơ sở cho công tác quản lý tài chính nói chung và quản lý tài chính cho KH&CN sẽ được viện dẫn chi tiết trong các chương tiếp theo của luận văn.2 Cơ sở lý luận về quản lý tài chính chương trình KH&CN 1.1 Các thuật ngữ liên quan Chương trình khoa học và công nghệ là nhiệm vụ khoa học và công nghệ có mục tiêu chung giải quyết các vấn đề khoa học và công nghệ phục vụ phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ trung hạn hoặc dài hạn được triển khai dưới hình thức tập hợp các đề tài khoa học và công nghệ, dự án sản xuất thử nghiệm, dự án khoa học và công nghệ [12].
Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước [9]. Khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy [28]. Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm [28]. Hoạt động khoa học và công nghệ là hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ [28].
Nghiên cứu khoa học là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn [28]. Nghiên cứu cơ bản là hoạt động nghiên cứu nhằm khám phá bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy [28]. Nghiên cứu ứng dụng là hoạt động nghiên cứu vận dụng kết quả nghiên cứu khoa học nhằm tạo ra công nghệ mới, đổi mới công nghệ phục vụ lợi ích của con người và xã hội [28]. 8 z Dịch vụ khoa học và công nghệ là hoạt động phục vụ, hỗ trợ kỹ thuật cho việc nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, an toàn bức xạ, hạt nhân và năng lượng nguyên tử; dịch vụ về thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến, ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội [28].
Tổ chức khoa học và công nghệ là tổ chức có chức năng chủ yếu là nghiên cứu khoa học, nghiên cứu triển khai và phát triển công nghệ, hoạt động dịch vụ khoa học và công nghệ, được thành lập và đăng ký hoạt động theo quy định của pháp luật. Nhiệm vụ khoa học và công nghệ là những vấn đề khoa học và công nghệ cần được giải quyết để đáp ứng yêu cầu thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, phát triển khoa học và công nghệ [28]. Đặt hàng thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ là việc bên đặt hàng đưa ra yêu cầu về sản phẩm khoa học và công nghệ, cung cấp kinh phí để tổ chức, cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ tạo ra sản phẩm khoa học và công nghệ thông qua hợp đồng [28]. Quản lý tài chính các chương trình KHCN bao gồm việc Phân cấp quản lý các nhiệm vụ KH&CN, Lập dự toán các nhiệm vụ KH&CN; Chấp hành dự toán với các nhiệm vụ KH&CN; Kiểm tra giám sát chế độ kế toán, kiểm toán và quyết toán với các nhiệm vụ KH&CN thuộc các chương trình KH&CN để đảm bảo cung cấp đầy đủ nguồn lực theo quy định của pháp luật về tài chính và KH&CN, đảm bảo thực hiện các mục tiêu, nội dung, nhiệm vụ của Chương trình KH&CN.