Lời mở đầu, đây thực sự là một ngành hàng tiềm năng có ảnh hƣởng nhất định tới đời sống xã hội, đặc biệt khi nền kinh tế quốc dân đi lên kéo theo nhu cầu không nhỏ về giải trí & giao thƣơng. Tuy nhiên giới hạn của các đề tài nghiên cứu vẫn chỉ dừng ở một vài góc độ, chƣa toàn diện. Trong quá trình nghiên cứu các tài liệu tham khảo cho luận văn, tác giả tìm hiểu đƣợc một số các nghiên cứu trƣớc đây đã từng đề cập đến lĩnh vực liên quan nhƣ: Thu (2013) đã đề cập đến một số giải pháp phát triển ngành Bia - Rƣợu - Nƣớc giải khát ở Việt Nam đến năm 2015. Nghiên cứu cho thấy sự cần thiết cho phát triển ngành bia rƣợu Nƣớc Giải Khát, đánh giá tình hình phát triển và đƣa ra các giải pháp để phát triển ngành bia rƣợu đến năm 2015.
Mặc dù đề cập đƣợc sự hạn chế của ngành bia rƣợu Việt Nam là năng lực cạnh tranh so với các sản phẩm quốc tế còn yếu nhƣng tác giả chƣa đƣa ra đƣợc giải pháp khắc phục tình trạng này.Đối với việc tránh lạm dụng bia rƣợu tác giả chƣa nêu đƣợc vai trò của văn hóa, truyền thông cho ngƣời tiêu dùng sử dụng hợp lý đồ uống có cồn. Sơn (2011) đã đề cập đến thực trạng đầu tƣ của ngành bia & Một số giải pháp quản lý dự án trong ngành bia Việt Nam. Tác giả nêu cơ sở lý luận và phƣơng pháp quản lý dự án đầu tƣ trong ngành bia và thực trạng đầu tƣ của ngành bia Việt Nam, đƣa ra giải pháp quản lý dự án ngành bia Việt Nam. Trong một số giải pháp quy hoạch ngành, giải pháp quy hoạch nhằm tránh 5 z cạnh tranh giữa doanh nghiệp cùng ngành lại là một hạn chế của tác giả.
Bởi vì có cạnh tranh thì ngƣời tiêu dùng mới đƣợc lợi, các doanh nghiệp phải nỗ lực để có sản phẩm chất lƣợng tốt, dịch vụ bán hàng tốt nhất nhằm dành đƣợc thị trƣờng và thu lấy lợi nhuận. Linh (2006) đã bàn về giải pháp marketing nhằm đẩy mạnh tiêu thụ rƣợu ngoại của công ty EXSECO. Luận văn chủ yếu bàn về công tác quản trị marketing tại công ty tƣ, với mục tiêu đẩy mạnh khâu bán hàng ( mặt hàng rƣợu ngoại) , chƣa đề cập khâu sau bán hàng (nhƣ kiểm soát ngƣời tiêu dùng,.) cũng nhƣ phát triển tiêu thụ rƣợu nội và mặt hàng đồ uống có cồn nói chung. Kỷ (2012) đã đề cập đến quản trị kênh phân phối đối với sản phẩm rƣợu Vodka của công ty cổ phần cồn rƣợu Hà Nội (Halico) tại khu vực Miền Trung – Tây Nguyên.
Luận văn phân tích và đánh giá toàn diện tình hình phân phối , phân tích môi trƣờng kênh phân phối để thấy điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức của công ty và đề xuất những giải pháp khả thi phát triển kênh phân phối. Tuy nhiên, luận văn chỉ đề cập đến mặt hàng rƣợu, và chƣa đề xuất giải pháp kiểm soát sau bán hàng. Dũng (2012) nghiên cứu về vấn đề hoàn thiện hệ thống kênh phân phối rƣợu Avina Vodka tại khu vực thị trƣờng Hà Nội. Tác giả đánh giá tổng quan về thị trƣờng rƣợu Vodka tại Hà Nội, thực trạng kênh phân phối rƣợu hiện tại của công ty cổ phần phát triển đầu tƣ xây dựng Việt Nam và một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống kênh phân phối rƣợu Avina Vodka của doanh nghiệp tại thị trƣờng Hà Nội.
Tuy nhiên điểm hạn chế là tác giả không đề cập đến vai trò của những thành viên kênh phân phối trong việc bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng và phối hợp với các cơ quan chức năng về việc triển khai các nghị định, chủ trƣơng của nhà nƣớc về kinh doanh đồ uống có cồn. Sẽ rất cần thiết nếu những nhà phân phối, nhân viên bán hàng đều đƣợc đào tạo, hƣớng dẫn cho việc tuyên truyền cho ngƣời tiêu dùng đúng cách, có văn hóa. 6 z Thăng (2012) đã bàn về vấn đề xây dựng chính sách marketing cho Công ty cổ phần Cồn Rƣợu Hà Nội (Halico) tại thị trƣờng miền Trung - Tây Nguyên. Luận văn hệ thống các vấn đề về marketing, tìm hiểu thị trƣờng rƣợu, khách hàng, ngoài ra đánh giá thực trạng chính sách marketing tại HALICO, từ đó xây dựng chính sách marketing phù hợp.
Tuy nhiên, tác giả chỉ đơn thuần đẩy mạnh kênh bán hàng chứ không đề cập đến khâu kiểm soát sản phẩm. Với các đề tài trên, các tác giả chỉ đề cập giải pháp phát triển ngành bia rƣợu, xây dựng hệ thống phân phối, marketing và quảng bá. Tuy nhiên, các nghiên cứu chƣa chú trọng đến vấn đề quản lý của nhà nƣớc, trong đó bao gồm việc định hƣớng sản xuất, kinh doanh bia rƣợu đối với các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh, cách sử dụng đồ uống có cồn của ngƣời tiêu dùng, nghiên cứu các chính sách liên quan đến rƣợu bia để điều tiết nền kinh tế vĩ mô, gây dựng xã hội tốt đẹp hơn trên mọi phƣơng diện. Trên đây cũng chính là điểm khác biệt của đề tài này so với những đề tài nghiên cứu trƣớc đó.
Hoạt động sản xuất và kinh doanh quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động sản xuất và kinh doanh thị trƣờng đồ uống có cồn 1. Khái niệm thị trường đồ uống có cồn Đồ uống có cồn là các hợp chất gồm nƣớc, cồn êtanol và các hợp chất khác có thể tiêu hoá đƣợc. Đồ uống có cồn đƣợc phân loại theo nồng độ cồn bên trong, bao gồm: Sữa lên men có nồng độ cồn nhiều nhất là 3%; Bia có có nồng độ cồn từ 1% - 12%; Rƣợu vang có nồng độ cồn từ 7% - 14%; Rƣợu mùi có nồng độ cồn từ 15% - 75%; Rƣợu mạnh có nồng độ cồn từ 30% - 55% (Rƣợu mạnh đƣợc phân loại theo nguyên liệu sản xuất & theo năm, gồm rƣợu nho, rƣợu ngũ cốc, và rƣợu hoa quả). Thị trƣờng là nơi gặp gỡ để tiến hành hoạt động mua bán giữa ngƣời mua và ngƣời bán.
Tại đó, ngƣời mua và bán cùng bình đẳng cạnh tranh trong sự kết hợp giữa cung và cầu. 7 z Từ những khái niệm trên, có thể hiểu thị trƣờng đồ uống có cồn là nơi diễn ra các hoạt động mua bán đồ uống có cồn dựa trên mối quan hệ cung cầu theo luật pháp và thông lệ. Giá đồ uống có cồn: Giá cả là quan hệ số lƣợng mà trong đó hàng hóa và tiền tệ đƣợc trao đổi với nhau. Chi phí cố định là chi phí mà doanh nghiệp phải chịu bất kể có hay không có sản lƣợng và hầu nhƣ không thay đổi theo sản lƣợng.
Chi phí biển đổi bao gồm chi phí về nguyên liệu, lƣơng công nhân, nó tăng lên khi gia tăng sản lƣợng. Khi cung và cầu gặp nhau thì hình thành nên giá cả cân bằng hay giá cả thị trƣờng. Đối với ngành đồ uống có cồn, giá cung còn bao gồm thuế tiêu thụ đặc biệt, là loại thuế dành cho các mặt hàng cần hạn chế sử dụng. Nhà nƣớc sẽ điều chỉnh loại thuế này để kiểm soát mức độ tiêu thụ riêng của ngành hàng này.
Khái niệm, đặc điểm của ngành sản xuất và kinh doanh đồ uống có cồn 1.1 Khái niệm của ngành sản xuất đồ uống có cồn: Ngành sản xuất đồ uống có cồn là ngành sản xuất bia, rƣợu và các loại đồ uống có cồn khác. Hoạt động chủ yếu của ngành gồm: 1) Nhập khẩu các nguyên liệu chế biến bia nhƣ malt, hoa bia, hƣơng liệu. 2) Sơ chế và sản xuất các nguyên liệu chế biến rƣợu 3) Sản xuất và đóng chai các dòng bia 4) Sản xuất và đóng chai các loại rƣợu nặng và nhẹ 5) Xuất nhập khẩu các loại bia rƣợu và đồ uống có cồn. Khái niệm của ngành kinh doanh đồ uống có cồn: Kinh doanh đồ uống có cồn là hoạt động của cá nhân hoặc tổ chức nhằm tối đa hóa lợi nhuận của ngành hàng đồ uống có cồn dựa trên các hoạt động nêu trên.2 Đặc điểm của ngành sản xuất và kinh doanh đồ uống có cồn: Ngành sản xuất và kinh doanh đồ uống có cồn có những đặc điểm sau: Sản phẩm của ngành đƣợc xem nhƣ thực phẩm nên phải đƣợc sản xuất theo tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP).
Đây là tiêu chuẩn hàng đầu vì chất lƣợng của nó tác động trực tiếp đến sức khỏe ngƣời tiêu 8 z dùng. Tiêu chuẩn về VSATTP đặt ra cho các sản phẩm của ngành thƣờng đƣợc chia thành hai nhóm chính: 1) Yêu cầu vệ sinh an toàn về chỉ tiêu lý hóa: đƣa ra giới hạn an toàn về các chất hóa học, các chỉ tiêu lý tính đƣợc phép có trong sản phẩm. 2) Yêu cầu vệ sinh an toàn về chỉ tiêu vi sinh: quy định các giới hạn về vi sinh vật đƣợc phép có trong sản phẩm. Đối với các sản phẩm đồ uống, hạn sử dụng ngắn hơn nhiều so với các sản phẩm tiêu dùng khác nên yêu cầu từ khâu sản xuất, phân phối, tiêu dùng càng cần chặt chẽ hơn.
Công nghệ & các yếu tố đầu vào khác cũng tác động trực tiếp tới chất lƣợng sản phẩm ngành. Công nghệ là yếu tố quyết định đến năng suất, sản lƣợng, chất lƣợng ổn định của sản phẩm và đóng vai trò then chốt tạo nên sự khác biệt của sản phẩm. Sự phát triển của công nghệ giúp làm ra các sản phẩm loại bỏ độc tố và cho hƣơng vị tự nhiên phù hợp với thị hiếu ngƣời tiêu dùng. Hiện nay hƣớng đi khôn ngoan của nhiều nhà sản xuất là nhập khẩu công nghệ nƣớc ngoài để sản xuất những sản phẩm mới mang tính đột phá.
Các yếu tố đầu vào là những nguyên liệu để tạo ra sản phẩm dựa trên công nghệ sản xuất của mỗi sản phẩm đó. Đối với đồ uống, nguyên liệu cụ thể là nguồn nƣớc, hƣơng liệu & các thành phần hóa chất khác. Ví dụ đối với sản phẩm rƣợu vang, trƣớc đây trong quá trình sản xuất rƣợu vang truyền thống, rƣợu nho đƣợc lên men tự nhiên do nhiều chủng nấm men có sẳn trên trái nho. Ngày nay, để sản phẩm ổn định và đạt chất lƣợng cao, đã có các nghiên cứu đƣợc tiến hành nhằm phân lập và chọn những giống nấm men tối ƣu, đồng thời chọn một quy trình sản xuất thích hợp để đêm lại chất lƣợng và hiệu quả cao trong quá trình sản xuất.
Đồ uống có cồn, bao gồm rƣợu, bia là ngành hàng phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt do nhà nƣớc không khuyến khích sử dụng. Đây là ngành hàng có 9 z tác dụng hai mặt cần đƣợc kiểm soát tốt. Việc tiêu thụ bia rƣợu, đồ uống có cồn nói chung ảnh hƣởng trực tiếp tới sự ổn định của xã hội.