Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT QUẢN LÝ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY 1. RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG 1.1 Khái niệm rủi ro, các loại rủi ro cơ bản trong hoạt ñộng ngân hàng Hoạt ñộng ngân hàng với chức năng trung gian tài chính giữa người ñi vay và người cho vay, vì vậy luôn có tiềm ẩn nhiều rủi ro phát sinh từ nội bộ ngân hàng hoặc do tác ñộng từ bên ngoài. Rủi ro là một yếu tố khách quan, cho nên người ta không thể nào loại trừ ñược hẳn mà chỉ có thể hạn chế sự xuất hiện của chúng cũng như những tác hại do chúng gây nên.
Rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng là hai ñại lượng ñồng biến với nhau trong một phạm vi nhất ñịnh trong hoạt ñộng của các Tổ chức tín dụng. Có rất nhiều ñịnh nghĩa về rủi ro: Theo quan ñiểm một học giả Mỹ, “ rủi ro là sự bất trắc có thể ño lường ñược”, “ rủi ro là tổng hợp của những sự ngẫu nhiên có thể ño lường bằng xác suất”. Như vậy, ñối với Tổ chức tín dụng (TCTD), rủi ro có thể hiểu là mối ñe doạ bị tổn thất một phần vốn của mình và không ñạt ñược thu nhập hay ñòi hỏi các khoản chi phí bổ sung ñể thực hiện các nghiệp vụ tài chính nhất ñịnh [19]. Rủi ro là những biến cố không mong ñợi khi xảy ra dẫn ñến sự tổn thất về tài sản của tổ chức tín dụng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí ñể có thể hoàn thành ñược một nghiệp vụ tài chính nhất ñịnh.
Rủi ro là tập hợp các nhân tố bên trong và bên ngoài có thể cản trở ngân hàng thực hiện mục tiêu kinh doanh của mình. Rủi ro là những sự kiện không chắc chắn có thể dẫn ñến những tổn thất hoặc lợi ích phát sinh từ các quyết ñịnh hoặc lựa chọn của ngân hàng. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các TCTD cần ñánh giá cơ hội kinh doanh dựa trên mối quan hệ rủi ro- lợi ích nhằm tìm ra những cơ hội ñạt ñược lợi ích xứng ñáng với mức rủi ro có thể chấp nhận ñược. Kinh nghiệm cho thấy không phải việc tránh né rủi ro mà chính là việc kiểm soát, kiềm chế thậm chí chấp nhận rủi ro mới là ñiều kiện cần thiết ñể ñạt ñược kết quả tốt trong kinh doanh dựa trên cơ sở quản lý rủi ro hiệu quả.
Có nhiều cách phân loại rủi ro, trong hoạt ñộng của các TCTD có thể phân thành 7 nhóm rủi ro cơ bản, ñó là rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro thanh khoản, rủi ro hoạt ñộng (rủi ro tác nghiệp), rủi ro danh tiếng (rủi ro uy tín), rủi ro pháp lý (rủi ro tuân thủ) và rủi ro chiến lược [4]. Các loại rủi ro này phản ánh thuật ngữ thông dụng trong ngành ngân hàng. - Rủi ro thị trường: là rủi ro tiềm ẩn xảy ra tại một TCTD khi có những biến ñộng giá cả thị trường gây ảnh hưởng bất lợi ñến thu nhập hoặc vốn của TCTD. Rủi ro thị trường có nhiều hình thức nên ñược chia ra làm ba loại là rủi ro lãi suất, rủi ro ngoại hối, và rủi ro giá cả.
Ba loại này nằm trong khái niệm rộng về rủi ro thị trường cũng như phù hợp với cách thức ño lường rủi ro này trong nội bộ TCTD. Rủi ro lãi suất cũng có thể phân thành các loại nhỏ hơn, chính xác hơn ñể ñịnh rõ nguồn gốc gây ra rủi ro lãi suất ở nội và ngoại bảng cân ñối của một TCTD. - Rủi ro thanh khoản: là rủi ro tiềm ẩn có tác ñộng xấu tới thu nhập hoặc vốn phát sinh khi: i) Tổ chức tín dụng không có khả năng ñáp ứng các nghĩa vụ khi ñến hạn, hoặc ii) Tổ chức tín dụng có khả năng ñáp ứng nghĩa vụ khi ñến hạn nhưng phải chịu tổn thất lớn ñể thực hiện nghĩa vụ ñó. - Rủi ro hoạt ñộng là nguy cơ tổn thất phát sinh do các quy trình nội bộ không ñầy ñủ hoặc bị lỗi, do con người, do các hệ thống hoặc do các sự kiện bên ngoài.
- Rủi ro danh tiếng là rủi ro tiềm ẩn ảnh hưởng ñến thu nhập và vốn phát sinh từ 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quan ñiểm tiêu cực của công chúng về hình ảnh, thương hiệu hoặc sản phẩm của TCTD; - Rủi ro chiến lược là rủi ro tiềm ẩn ảnh hưởng ñến thu nhập và vốn phát sinh từ chiến lược, việc thực hiện chiến lược không ñúng hoặc không có khả năng thích nghi với những thay ñổi trong môi trường kinh doanh. - Rủi ro tuân thủ là rủi ro tiềm ẩn ảnh hưởng ñến thu nhập và vốn phát sinh do việc không tuân thủ pháp luật, quy ñịnh, quy chế, thông lệ tốt, chính sách và quy trình nội bộ hoặc các chuẩn mực ñạo ñức khác. - Rủi ro tín dụng: Đây là loại rủi ro dễ nhận thấy nhất liên quan ñến hoạt ñộng cho vay của TCTD. Phần này ñược nghiên cứu cụ thể tại phần 2 dưới dây.
Rủi ro trong hoạt ñộng cho vay của Tổ chức tín dụng Hiện nay hoạt ñộng cho vay hiểu theo nghĩa rộng (bao gồm cả nghiệp vụ cho vay và nghiệp vụ cho thuê tài chính, bảo lãnh) hay nói cách khác là hoạt ñộng tín dụng là hoạt ñộng mang lại thu nhập chính cho các Tổ chức tín dụng Việt Nam. Do ñó, trong các loại rủi ro, rủi ro trong hoạt ñộng cho vay là loại rủi ro chiếm tỷ trọng lớn nhất và mang lại hậu quả nghiêm trọng nhất cho các Tổ chức tín dụng. Rủi ro trong hoạt ñộng cho vay của tổ chức tín dụng bao gồm tổng hợp các rủi ro có thể xảy ra trong hoạt ñộng cho vay của Tổ chức tín dụng, bao gồm các loại rủi ro cơ bản là rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro ngoại hối. Trong phạm vi của luận văn, tác giả tập trung nghiên cứu về rủi ro tín dụng.
Khái niệm rủi ro tín dụng Theo Joel Bessis trong quyển Risk Management in Banking, rủi ro tín dụng ñược hiểu là những tổn thất do khách hàng không trả ñược nợ hoặc sự giảm sút chất lượng của những khoản vay [26]. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tại cuốn quản trị ngân hàng thương mại của Peter S.Rose, rủi ro tín dụng ñược hiểu là: “một số tài sản của ngân hàng (ñặc biệt là khoản cho vay) giảm giá trị hay không thể thu hồi là biểu hiện của rủi ro tín dụng”[19]. Trong báo cáo thường niên của ngân hàng Hoàng gia Canada rủi ro tín dụng ñược ñịnh nghĩa là rủi ro mất vốn do bên ñối tác không có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Dưới góc ñộ kinh tế, rủi ro tín dụng: là khả năng xảy ra những tổn thất ñối với Tổ chức tín dụng khi khách hàng vay không trả nợ ñúng hạn, không trả hoặc không trả ñầy ñủ vốn và lãi.
Dưới góc ñộ pháp lý, lần ñầu tiên tại một văn bản quy phạm pháp luật của Ngân hàng nhà nước ñưa ra ñịnh nghĩa pháp lý về “rủi ro tín dụng”. Theo quyết ñịnh số 493/2005/QĐ-NHNN ban hành ngày 22/4/2005 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam “Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt ñộng ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Trong “Sổ tay thanh tra trên cơ sở rủi ro” của Ngân hàng nhà nước ñưa ra ñịnh nghĩa: Rủi ro tín dụng là rủi ro tiềm ẩn ñối với thu nhập hoặc vốn phát sinh khi người vay hoặc ñối tác không thực hiện ñúng ñiều khoản của hợp ñồng hoặc không thực hiện ñầy ñủ như thỏa thuận tại ñiều khoản của hợp ñồng. Định nghĩa này hàm chứa nhiều khía cạnh hơn một ñịnh nghĩa truyền thống vốn cho rằng rủi ro tín dụng chỉ liên quan ñến các hoạt ñộng cho vay.
Rủi ro tín dụng cũng phát sinh trong nhiều loại hoạt ñộng ngân hàng, kể cả việc lựa chọn các sản phẩm cho danh mục ñầu tư, các TCTD ñại lý, các ñối tác kinh doanh sản phẩm phái sinh hay các ñối tác ngoại hối. Rủi ro tín dụng cũng có thể phát sinh từ rủi ro quốc gia, cũng như phát sinh một cách gián tiếp thông qua hoạt ñộng bảo lãnh. Rủi ro tín dụng tồn tại trên cả nội bảng và ngoại bảng cân ñối 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của TCTD. Rõ ràng rủi ro tín dụng phát sinh từ các món cho vay nhưng còn có các nguồn khác gây ra rủi ro tín dụng [4].
Đặc ñiểm của rủi ro tín dụng: - Rủi ro tín dụng có tính chất ña dạng và phức tạp: Tính chất ña dạng và phức tạp của rủi ro tín dụng biểu hiện ở sự ña dạng và phức tạp của các nguyên nhân dẫn ñến rủi ro tín dụng, cũng như các hậu quả do rủi ro tín dụng gây ra. Nhận thức và vận dụng ñặc ñiểm này, khi thực hiện phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng cần áp dụng ñồng bộ nhiều biện pháp, không chủ quan với bất cứ một dấu hiệu rủi ro nào. Bên cạnh ñó, trong quá trình xử lý hậu quả rủi ro tín dụng cần xuất phát từ nguyên nhân, bản chất và hậu quả của rủi ro ñể ñưa ra biện pháp phù hợp. - Rủi ro tín dụng có tính tất yếu: Các chuyên gia kinh tế ñều cho rằng hoạt ñộng kinh doanh ngân hàng thực chất là quản lý rủi ro (chủ yếu là rủi ro tín dụng) ở mức ñộ phù hợp ñể ñạt ñược mức lợi nhuận tương ứng.
Do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn ñến rủi ro, ñặc biệt do không thể có ñược thông tin cân xứng về việc sử dụng vốn vay cho hoạt ñộng kinh doanh của khách hàng vay, nên bất cứ khoản cho vay nào cũng tiềm ẩn nguy cơ rủi ro ñối với hoạt ñộng tín dụng của các TCTD. Vì vậy trong quá trình cấp tín dụng cho khách hàng, các TCTD cần chủ ñộng có các biện pháp thích hợp ñể xác ñịnh rủi ro, ñịnh lượng rủi ro, quản lý rủi ro và kiểm soát rủi ro. - Rủi ro tín dụng có thể dự báo trước hoặc không thể dự báo: Các rủi ro có thể dự báo trước: danh mục cho vay hay ñầu tư của một TCTD luôn luôn có một số khoản thất thoát tiềm tàng chưa ñược xác ñịnh.