Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn trong quản lý nhà nước về phòng cháy, chữa cháy Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về phòng cháy, chữa cháy trên địa bàn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội Chương 3: Giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước về phòng cháy, chữa cháy trên địa bàn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ PHÒNG CHÁY, CHỮA CHÁY 1. Một số vấn đề cơ bản về phòng cháy, chữa cháy 1. Khái niệm phòng cháy, chữa cháy 1.
Khái niệm cháy Theo Từ điển Bách khoa Công an nhân dân Việt Nam năm 2005, “cháy” được hiểu là: “Phản ứng ôxy hóa có kèm theo tỏa nhiệt và phát sáng. Cháy chỉ xảy ra khi có sự kết hợp giữa chất cháy, chất ôxi hóa (thường là ôxi trong không khí) và nguồn gây cháy. Thiếu một trong ba yếu tố đó thì không có cháy” [31]. Trong Tiêu chuẩn Việt Nam 5303:1990 (An toàn cháy - thuật ngữ và định nghĩa), cũng nêu rõ: “Cháy là phản ứng ôxy hóa, tỏa nhiệt và phát sáng”.
Như vậy, về bản chất, cháy là một phản ứng hóa học giữa các chất cháy với ôxy của không khí hoặc với một chất ôxy hóa khác kèm theo sự tỏa nhiệt và phát sáng. Cháy chỉ có thể xảy ra khi có sự kết hợp trong những điều kiện nhất định giữa chất cháy (hơi, khí, bụi cháy) với chất ôxy hóa có tác động của nguồn gây cháy. Các yêu tố cần cho sự cháy bao gồm: chất cháy, nguồn gây cháy và chất ôxy hóa, thiếu một trong ba yếu tố trên thì không có sự cháy xảy ra. Tuy nhiên, không phải lúc nào cứ có đủ 3 yếu tố đó là sự cháy xảy ra mà phải có sự kết hợp các yếu tố trong những điều kiện nhất định.
Các điều kiện gây cháy ở đây có thể là thời gian tiếp xúc, khoảng cách giữa các chất cháy với nguồn gây cháy; giới hạn nồng độ bốc cháy của chất cháy; cường độ nguồn gây cháy, nhiệt độ môi trường v.v…Vì vậy, trong lĩnh vực PCCC phải nghiên cứu các nguyên nhân và điều kiện gây cháy để phục vụ công tác phòng cháy cũng như dập tắt đám cháy. 9 Việc nghiên cứu xác định bản chất, quy luật hình thành sự cháy có ý nghĩa quan trọng không chỉ trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học PCCC mà còn có ý nghĩa tích cực trong quản lý nhà nước về PCCC. Tuy nhiên giữa nghiên cứu khoa học PCCC với quản lý nhà nước về PCCC không đồng nhất với nhau về khái niệm “cháy”. Theo khoản 1 Điều 3 Luật PCCC, cháy được hiểu là: “Trường hợp xảy ra cháy không kiểm soát được có thể gây thiệt hại về người, tài sản và ảnh hưởng môi trường”.
Như vậy, phạm vi điều chỉnh của Luật PCCC là phạm vi quản lý nhà nước về PCCC không tác động đến mọi trường hợp gây cháy nói chung mà chỉ giới hạn trong trường hợp cháy xảy ra nhưng không kiểm soát được (đám cháy). Quan niệm về cháy như vậy là tiền đề để xem xét các hoạt động của con người trong phòng ngừa cháy cũng như trong hoạt động chữa cháy và các hoạt động khác có liên quan đến công tác PCCC. Khái niệm phòng cháy Theo Tiêu chuẩn Việt Nam 5303:1990 (An toàn cháy, thuật ngữ và định nghĩa) đã nêu rõ: “An toàn cháy là tình trạng hoặc tính chất của các sản phẩm, các phương pháp, phương tiện sản xuất và các khu vực đảm bảo loại trừ được khả năng phát sinh cháy và hạn chế được hậu quả khi cháy xảy ra nhờ các biện pháp tổ chức, các giải pháp kỹ thuật và công nghệ”. Hoạt động đó có thể là sự tác động tích cực từ phía Nhà nước (bằng việc ban hành các quy định bảo đảm yêu cầu phòng cháy; tổ chức công tác kiểm tra, tuyên truyền, xử lý vi phạm…) và sự tự giác thực hiện của cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và của toàn xã hội.
Theo đó, trên quan điểm phòng ngừa tích cực, phòng ngừa chủ động, có thể chỉ ra rằng: Phòng cháy là hệ thống các iện pháp, giải pháp về tổ chức, kỹ thuật nhằm loại trừ hoặc hạn chế các điều kiện và nguyên nhân gây cháy, tạo điều kiện thuận lợi cho việc cứu người, cứu tài sản, chống cháy lan khi xảy ra cháy và cho việc tổ chức dập tắt đám cháy [17, tr. Khái niệm chữa cháy Từ sự cháy (trong phạm vi kiểm soát) phát sinh và phát triển thành đám cháy là một quá trình có thể do nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó có những nguyên nhân do sơ xuất bất cẩn hoặc ngoài sự kiểm soát của con người đã và sẽ tiếp tục tồn tại, gây nên những đám cháy có thể gây tổn hại lớn về người và tài sản. Vì vậy, việc phòng ngừa cháy phải đi đôi với chữa cháy, hoạt động chữa cháy tồn tại như là một tất yếu trong các hoạt động chung của xã hội. Điều 3 Luật PCCC năm 2001, quy định: “Chữa cháy ao gồm các công việc huy động, triển khai lực lượng, phương tiện chữa cháy, cắt điện, tổ chức thoát nạn, cứu người, cứu tài sản, chống cháy lan, dập tắt đám cháy và các hoạt động khác có liên quan đến chữa cháy”.
Hoạt động phòng cháy và hoạt động chữa cháy tuy là hai khái niệm có nội hàm khác nhau nhưng lại có quan hệ chặt chẽ với nhau, tạo nên một thể thống nhất trong chủ động phòng ngừa cháy và sẵn sàng dập tắt đám cháy. Vì vậy, trong cuốn Giáo trình Quản lý nhà nước về phòng cháy, chữa cháy đã khái quát như sau: Phòng cháy chữa cháy là tổng hợp các iện pháp, giải pháp về tổ chức, chiến thuật và kỹ thuật nhằm loại trừ hoặc hạn chế nguyên nhân, điều kiện gây cháy; tạo điều kiện thuận lợi cho việc chủ động cứu người, cứu tài sản, chống cháy lan và chữa cháy kịp thời, có hiệu quả khi có cháy xảy ra [30, tr. Nguyên tắc phòng cháy, chữa cháy Đúc rút từ kinh nghiệm và hoạt động thực tiễn, Luật PCCC năm 2001 đã rút ra 4 nguyên tắc của hoạt động phòng cháy, chữa cháy như sau: Một là, huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân. Phòng cháy, chữa cháy là hoạt động mang tính chất xã hội rộng lớn, vì vậy phải coi đây là sự nghiệp của toàn dân, là nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi cơ quan, tổ chức, cơ sở, hộ gia đình và mỗi cá nhân, có như vậy công tác phòng cháy, chữa cháy 11 mới đạt được hiệu quả cao.
Phải tổ chức phát động thành phong trào để dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra mọi hoạt động phòng cháy, chữa cháy. Hai là, trong hoạt động phòng cháy và chữa cháy lấy phòng ngừa là chính, phải tích cực và chủ động phòng ngừa, hạn chế đến mức thấp nhất các vụ cháy xảy ra và thiệt hai do cháy gây ra. Phòng cháy và chữa cháy là hai nhiệm vụ không thể tách rời nhau, chúng luôn có mối quan hệ mật thiết trong hoạt động phòng cháy và chữa cháy, công tác phòng ngừa đi trước, phải tổ chức công tác phòng ngừa triệt để, hiệu quả để làm giảm đến mức thấp nhất số vụ cháy xảy ra. Ba là, phải chuẩn bị sẵn sàng lực lượng, phương tiện, phương án và các điều kiện khác để khi có xảy ra cháy thì chữa cháy kịp thời, có hiệu quả.
Trong công tác phòng cháy và chữa cháy luôn phải coi phòng ngừa là chính nhưng không vì thế mà coi nhẹ công tác chữa cháy, bởi vì cháy xảy ra do nhiều nguyên nhân khác nhau cho nên dù có là tốt công tác phòng ngừa đến đâu cũng vẫn có thể xảy ra cháy. Do vậy phải chuẩn bị sẵn sàng để chữa cháy kịp thời và có hiệu quả. Bốn là, mỗi hoạt động phòng cháy, chữa cháy trước hết phải được thực hiện và giải quyết bằng phương tiện và lực lượng tại chỗ. Thông thường, khi đám cháy mới xảy ra thường là cháy nhỏ nếu được phát hiện kịp thời và có lực lượng phương tiện tại chỗ thì việc dập tắt đám cháy rất nhanh và đơn giản, nhưng nếu không phát hiện kịp thời thì đám cháy sẽ phát triển rất lớn, việc tổ chức chữa cháy sẽ rất khó khăn, phức tạp và dẫn đến thiệt hại rất nghiêm trọng.
Do đó, cần phải chủ động chuẩn bị lực lượng và phương tiện tại chỗ trong đó mỗi cơ quan, tổ chức, cơ sở, khu dân cư phải thành lập lực lượng dân phòng và lực lượng phòng cháy, chữa cháy để làm lực lượng nòng cốt trong phong trào toàn dân tham gia phòng cháy, chữa cháy. Tính chất của hoạt động phòng cháy, chữa cháy Tính chất cơ bản của hoạt động phòng cháy, chữa cháy được thể hiện: Một là, tính quần chúng. Tính chất này xuất phát từ thực tế là cháy có thể xảy ra ở bất cứ đâu và bất cứ thời gian nào có khi có đủ điều kiện phát sinh trong khi đó nguyên nhân gây cháy chủ yếu do sự bất cẩn của con người trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, trong sinh hoạt gây ra. Mặt khác, việc phát hiện cứu chữa các vụ cháy trên chủ yếu do cá nhân và các thành viên tại cơ sở xảy ra cháy thực hiện.
Trong hoạt động hàng ngày tại nơi làm việc và nơi cơ trú thường xuyên tồn tại lửa, các thiết bị sinh lửa, sinh nhiệt và các loại chất cháy như vậy ở đâu cũng có đủ các điều kiện gây cháy. Theo thống kê cho thấy nguyên nhân gây cháy chủ yếu do con người thiếu ý thức hoặc kiến thức gây ra, nhưng cũng chính con người lại phát hiện cháy và tổ chức chữa cháy. Do đó công tác phòng cháy và chữa cháy mang tính chất quần chúng rất sâu sắc và tính xã hội cao. Hai là, tính pháp chế.
Hiện nay, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về phòng cháy, chữa cháy đang ngày càng được hoàn thiện cho phù hợp với tình hình phát triển của xã hội như ban hành Luật Phòng cháy, chữa cháy năm 2001, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng cháy, chữa cháy năm 2013 và nhiều các thông tư, nghị định có liên quan. Tính chất pháp chế trong hoạt động phòng cháy và chữa cháy thể hiện những hoạt động trong các lĩnh vực của đời sống xã hội có liên quan đến phòng cháy và chữa cháy phải triệt để tuân thủ những quy định trong pháp luật về phòng cháy và chữa cháy. Các tổ chức, cơ quan, hộ gia đình và cá nhân trong hoạt động của mình bắt buộc phải chấp hành đầy đủ và thường xuyên những quy định của pháp luật về phòng cháy chữa cháy thì mới đem lại hiệu quả.