Chương 1. Những vấn đề lý luận về nợ xấu và quản lý nợ xấu tại ngân hàng thương mại. Thực trạng hoạt động quản lý nợ xấu tại Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nợ xấu tại các ngân hàng thương mại qua thực tiễn Ngân hàng TMCP Á Châu.
Luận văn thạc sĩ Luật Học 5 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NỢ XẤU VÀ QUẢN LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái quát chung về nợ xấu tại các ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm về nợ xấu tại các ngân hàng thương mại Hiện nay có nhiều quan điểm về các tiêu chí xác định nợ xấu. Dựa trên nền tảng kinh tế của mỗi quốc gia, quan điểm của các chủ thể đánh giá khoản nợ mà đưa ra các tiêu chí đánh giá hay định nghĩa về nợ xấu khác nhau.
Vì vậy nhóm chuyên gia tư vấn (AEG) của Liên Hợp Quốc cũng khuyến cáo rằng định nghĩa nợ xấu không nên mang tính chất mô tả mà chỉ nên được sử dụng như các hướng dẫn cho các ngân hàng. Các tiêu chí để xác định nợ xấu theo Ngân hàng trung ương Châu Âu (ECB) : Luận văn thạc sĩ Luật Học Nợ xấu là những khoản cho vay không có khả năng thu hồi như: - Những khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc những khoản nợ không có căn cứ đòi bồi thường từ người mắc nợ. - Người mắc nợ trốn hoặc bị mất tích, không còn tài sản để thanh toán nợ. - Những khoản nợ mà ngân hàng không thể liên lạc được với người mắc nợ hoặc không thể tìm được người mắc nợ.
- Những khoản nợ mà khách nợ chấm dứt hoạt động kinh doanh, thanh lý tài sản, hoặc kinh doanh bị thua lỗ và tài sản còn lại không đủ để trả nợ. Nợ xấu là những khoản cho vay có thể không được thu hồi đầy đủ cho Ngân hàng: Đây là những khoản nợ không có tài sản thế chấp hoặc tài sản đưa ra để thế chấp không đủ để trả nợ. Điều đó đồng nghĩa với việc ngân hàng không thể thu hồi đầy đủ món nợ vì người mắc nợ rất khó kiếm được lợi nhuận từ công việc kinh doanh hoặc người mắc nợ không liên lạc với ngân hàng để thanh toán hoặc hoàn cảnh chỉ rõ rằng phần lớn tiền nợ sẽ không thể thu hồi được. Những khoản nợ loại này gồm có: - Những khoản nợ mà người mắc nợ đồng ý thanh toán trong quá khứ, nhưng 6 phần còn lại không thể được đền bù, hoặc những khoản nợ trong đó tài sản được chuyển để thanh toán nhưng giá trị còn lại không đủ trang trải toàn bộ nợ.
- Những khoản nợ mà người mắc nợ khó có thể trả nợ và yêu cầu gia hạn nợ nhưng không đền bù được nợ trong thời gian thoả thuận. - Những khoản nợ mà tài sản thế chấp không đủ để trả nợ hoặc tài sản thế chấp ở Ngân hàng không được chấp thuận về mặt pháp lý dẫn đến người mắc nợ không thể trả nợ Ngân hàng đầy đủ. - Những khoản nợ mà tòa án tuyên bố người mắc nợ phá sản nhưng phần bồi hoàn ít hơn dư nợ.31] Theo ECB, nợ xấu được đánh giá chủ yếu dựa vào khả năng thu hồi nợ, thu hồi được một phần hay không thể thu hồi. Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF): Định nghĩa về nợ xấu đã được IMF đưa ra như sau: “Một khoản cho vay được coi là không sinh lời (nợ xấu) khi tiền thanh toán lãi và/hoặc tiền gốc đã quá hạn từ Luận văn thạc sĩ Luật Học 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến 90 ngày hoặc hơn đã được tái cơ cấu hay gia hạn nợ, hoặc các khoản thanh toán dưới 90 ngày nhưng có các nguyên nhân nghi ngờ việc trả nợ sẽ được thực hiện đầy đủ”.8] Các tiêu chí để xác định nợ xấu theo IMF bao gồm: i) thời gian quá hạn trên 90 ngày, hoặc ii) khả năng trả nợ bị nghi ngờ.
Khả năng trả nợ ở đây có thể là khách hàng hoàn toàn không trả được nợ, hoặc việc trả nợ của khách hàng là không đầy đủ. Như vậy, so với ECB, thì tiêu chí để xác định nợ xấu của IMF cũng dựa trên kết quả thu hồi nợ của ngân hàng, nhưng có thêm yếu tố về thời gian quá hạn trả nợ. Trong khi đó, Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS) không đưa ra định nghĩa cụ thể về nợ xấu. Nhưng trong các hướng dẫn về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý RRTD, BCBS xác định, việc khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hay cả hai điều kiện sau xảy ra: i) ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi; ii) người vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày.
Vậy nhìn 7 chung thì BCBS cũng có cùng quan điểm với IMF về nợ xấu. Tại Việt Nam, các NHTM đánh giá một khoản nợ là nợ xấu theo quy định tại điều 3 Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của NHNN Việt Nam quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập DPRR và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (Thông tư số 02/2013/TT-NHNN) Nợ xấu (Non-Performing Loans - NPL) là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5 bao gồm nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ mất vốn được quy định tại điều 10, 11 Thông tư số 02/2013/TT-NHNN. Nợ xấu theo quy định của pháp luật Việt Nam cũng được xác định dựa trên hai tiêu chí: (i) thời gian quá hạn trên 90 ngày (ii) khả năng trả nợ của khách hàng. So với cách xác định nợ xấu của IMF hay BCBS thì tiêu chí đánh giá nợ xấu của NHTM Việt Nam cũng tương tự, tuy nhiên phụ thuộc vào tình hình kinh tế của quốc gia mà NHNN Việt Nam yêu cầu các NHTM Việt Nam quy định về đánh giá Luận văn thạc sĩ Luật Học khả năng trả nợ của khách hàng chặt chẽ hơn thể hiện ở những đối tượng được cấp tín dụng hay những khoản tín dụng có TSBĐ có liên quan đến NHTM đều phải đưa vào nhóm nợ dưới tiêu.
So với các quốc gia phát triển trên thế giới hệ thống NHTM Việt Nam còn khá non trẻ vì vậy việc nâng cao cảnh giác trong quản lý nợ của NHNN Việt Nam là hoàn toàn cần thiết. Tóm lại, nợ xấu là những khoản vay không còn khả năng sinh lời hay những khoản vay không còn hoạt động, việc xác định nợ xấu chủ yếu dựa vào hai tiêu chí là thời gian quá hạn và khả năng trả nợ của khách hàng. Tác động của nợ xấu Khi đánh giá một khoản cấp tín dụng các ngân hàng luôn cân nhắc giữa hai yếu tố và lợi nhuận và rủi ro. Khi một khoản nợ xấu phát sinh là một thất bại của người cấp tín dụng trong quyết định lựa chọn giữa hai yếu tố trên.
Niềm tin về lợi nhuận đạt được cao hơn rủi ro phải gánh chịu bị phá vỡ khi nợ xấu phát sinh dẫn đến khả năng không thu hồi hay thu hồi không đủ vốn vay. Mặc dù vậy, việc phát sinh nợ xấu là điều không thể tránh khỏi mà vấn đề nằm ở chỗ xác định xem tỷ lệ 8 nợ xấu như thế nào là có thể chấp nhận được. Theo Đề án “Xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 31/5/2013 theo Quyết định 843/2013/QĐ-TTg thì chuẩn tỷ lệ nợ xấu an toàn của Việt Nam là dưới 3%. Một tỷ lệ chuẩn an toàn về nợ xấu được quan tâm vì khi nợ xấu xảy ra với tỷ lệ cao sẽ gây nên ảnh hưởng nghiêm trọng không chỉ với riêng các ngân hàng cấp tín dụng mà còn có thể tác động dây chuyền đến nền kinh tế.
Đối với các ngân hàng thương mại Từ định nghĩa của nợ xấu là những khoản nợ không còn khả năng sinh lời hay không có khả năng thu hồi cho ta thấy rõ ràng những khoản nợ xấu sẽ kéo theo lợi nhuận ngân hàng giảm ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Bên cạnh đó tỷ lệ nợ xấu cao sẽ có nhiều vốn vay bị tồn đọng, khó thu hồi ảnh hưởng đến khả năng luân chuyển vốn của ngân hàng, khả năng thanh khoản của ngân hàng bị tác động trực tiếp. Ngoài khả năng tài chính của ngân hàng bị tác động mạnh mẽ bởi nợ xấu thì Luận văn thạc sĩ Luật Học uy tín của ngân hàng cũng đứng bên bờ vực thẳm. Không có khách hàng nào muốn gởi tiền vào ngân hàng có tình hình tín dụng yếu kém, tỷ lệ nợ xấu vượt mức cho phép, khả năng thanh khoản không tốt.
Và các chỉ số về nợ xấu cũng là một chỉ số được đánh giá bắt buộc đối với một ngân hàng khi muốn được cấp hạn mức tín dụng, hạn mức bảo lãnh tại TCTD khác trong nước hay nước ngoài. Đối với nền kinh tế Tác động đối với nền kinh tế của nợ xấu là tác động gián tiếp thông qua việc một quan hệ kinh tế bị thất bại. Nợ xấu gây ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng từ đó ảnh hưởng đến khả năng luân chuyển, phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính của nền kinh tế. Nợ xấu phát sinh do khách hàng vay mất khả năng chi trả nên sẽ ảnh hưởng đến không chỉ hoạt động kinh doanh của khách hàng bị nợ xấu mà còn ảnh hưởng đến các đối tác kinh doanh liên quan và nhìn chung sẽ ảnh hưởng theo diện rộng đến nền kinh tế.
Tóm lại nợ xấu gây trì trệ nền kinh tế. Cơ sở pháp lý xác định nợ xấu và nguyên nhân phát sinh nợ xấu 1. Cơ sở pháp lý xác định nợ xấu Cơ sở pháp lý để xác định nợ xấu theo pháp luật Việt Nam hiện hành được quy định tại Thông tư số 02/2013/TT-NHNN.