phần mở đầu và kết luận, đề án gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Căn cứ xây dựng đề án Chƣơng 2: Nội dung của đề án Chƣơng 3: Kiến nghị 4 CHƢƠNG 1 CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN 1. Nợ xấu của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm nợ xấu Theo Tổ chức Tiền tệ Thế giới (IMF): Trong Hƣớng dẫn tính toán các chỉ số lành mạnh tài chính tại các quốc gia (IFRS), IMF đƣa ra định nghĩa về nợ xấu nhƣ sau: “một khoản vay được coi là nợ xấu khi quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suất đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại, hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy những dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ (người vay phá sản)”. Nợ xấu là những khoản nợ phát sinh từ hoạt động cho vay không được thanh toán đầy đủ cho ngân hàng hoặc được đánh giá là không có khả năng thu hồi, bao gồm cả các khoản nợ xấu thông thường (nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5 theo phân loại nợ tại thông tư số 25/2023/TT-NHNN Lào), các khoản nợ đã xử lý bằng quỹ dự phòng của ngân hàng được theo dõi tại ngoại bảng và cả các khoản nợ xấu đã bán cho LAMC.
Theo quan điểm của tác giả nợ xấu nhƣ sau: “Nợ xấu (nợ khó đòi) là các khoản nợ dƣới chuẩn, có thể quá hạn và bị nghi ngờ về khả năng thanh toán của ngƣời vay cũng nhƣ khả năng thu hồi vốn của ngƣời cho vay. Đây là khoản nợ mà ngƣời đi vay (có thể là cá nhân hoặc pháp nhân) không thể trả cho ngƣời cho vay khi đến hạn thanh toán đã cam kết trong hợp đồng tín dụng”. Phân loại nợ xấu và trích lập dự phòng cho nợ xấu Phân loại nợ * Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: Nợ trong hạn và đƣợc đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn; Nợ quá hạn dƣới 10 ngày và đƣợc đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi còn lại đúng thời hạn. 5 * Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: Nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày; Nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu *Nhóm 3 (Nợ dƣới tiêu chuẩn) bao gồm: - Nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày.
- Nợ gia hạn nợ nợ lần đầu. - Nợ đƣợc miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không có khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng. - Nợ thuộc một trong các trƣờng hợp sau đây: - Nợ đang thu hồi theo kết luận thanh tra * Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dƣới 90 ngày theo thời hạn trả nợ đƣợc cơ cấu lại lần đầu; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai; Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhƣng đã quá thời hạn thu hồi đến 60 ngày mà vẫn chƣa thu hồi đƣợc. * Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Nợ quá hạn trên 360 ngày; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ đƣợc cơ cấu lại lần đầu; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ đƣợc cơ cấu lần thứ hai; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chƣa bị quá hạn hoặc đã quá hạn; Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhƣng đã quá thời hạn thu hồi trên 60 ngày mà vẫn chƣa thu hồi đƣợc; Nợ của khách hàng là tổ chức tín dụng đƣợc Ngân hàng Nhà nƣớc công bố đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt, ngân hàng nƣớc ngoài bị phong tỏa vốn và tài sản.
[9, tr42] Trích lập dự phòng cho nợ xấu Việc phân loại nợ vay, qua đó xác định nợ quá hạn để trích lập quỹ dự phòng rủi ro theo 5 nhóm nhƣ đã nêu ở mục 1.1 và trích lập theo tỷ lệ nhƣ sau: - Loại 1: Nợ đủ tiêu chuẩn, tỷ lệ dự phòng rủi ro là 0%. - Loại 2: Nợ cần chú ý, tỷ lệ dự phòng rủi ro là 5%. - Loại 3: Nợ dƣới tiêu chuẩn, tỷ lệ dự phòng rủi ro là 20%. - Loại 4: Nợ nghi ngờ, tỷ lệ dự phòng rủi ro là 50%.
6 - Loại 5: Nợ có khả năng mất vốn, tỷ lệ dự phòng rủi ro là 100%. Việc trích lập dự phòng rủi ro đƣợc thực hiện theo tháng, chính vì vậy, điều này giúp ngân hàng luôn có vốn để xử lý rủi ro phát sinh nợ xấu trong hệ thống ngân hàng thƣơng mại của mình. Nguyên nhân gây ra nợ xấu Nguyên nhân khách quan - Môi trường tự nhiên: Thiên tai, bão lụt, hỏa hoạn, mất mùa, dịch bệnh… là những nguyên nhân khách quan do sự biến đổi của môi trƣờng thiên nhiên gây ảnh hƣởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng vay, nhất là các khoản cho vay nông nghiệp, dẫn đến nợ xấu phát sinh. Đây là nguyên nhân gây ra rủi ro không thể tránh đƣợc, những mất mát do nguyên nhân này gây ra cần đƣợc sự sẻ chia của nhà nƣớc và của cả xã hội.
- Môi trường kinh tế - xã hội: Môi trƣờng kinh tế xã hội trong nƣớc biến động chịu ảnh hƣởng của những biến động từ nền kinh tế thế giới, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh rủi ro trong hoạt động kinh doanh của nền kinh tế, từ đó ảnh hƣởng tới các lĩnh vực của nền kinh tế trong đó ngân hàng là ngành chứa đựng nguy cơ rủi ro lớn nhất. - Môi trường pháp lý: Môi trƣờng pháp lý cho hoạt động ngân hàng chƣa đầy đủ là nguyên nhân quan trọng góp phần gây ra nợ xấu. Sự bất cập và chồng chéo của các luật sẽ khiến cơ quan hữu quan lúng túng trong việc xử lý tranh chấp về tài sản bảo đảm, các quy định về kế toán kiểm toán chƣa đủ sức mạnh thực hiện sẽ khiến số liệu không đủ cơ sở vững chắc để thẩm định cho vay. Hoạt động trong cơ chế thị trƣờng chƣa đầy đủ, chƣa hoàn hảo.51] Nguyên nhân chủ quan về phía ngân hàng và khách hàng * Nguyên nhân từ phía ngân hàng - Chính sách tín dụng: Một chính sách tín dụng không đầy đủ, đồng bộ và thống nhất sẽ dẫn đến việc cấp tín dụng không đúng đối tƣợng, tiềm ẩn nguy cơ rủi ro dẫn đến phát sinh nợ xấu cho ngân hàng.
Mặt khác để thu hút khách hàng và chiếm lĩnh thị phần, NHTM đã bỏ qua một số bƣớc trong quy trình tín dụng, cơ chế 7 cho vay đƣợc đơn giản hóa, tự ý hạ thấp tiêu chuẩn đánh giá khách hàng. Bài học tiêu biểu từ khủng hoàng tài chính toàn cầu năm 2008 xuất phát từ thị trƣờng Mỹ có nguồn gốc sâu xa chính là những món cho vay dƣới chuẩn. - Công tác kiểm tra nội bộ của các ngân hàng: Nhiệm vụ của công tác kiểm tra, kiểm soát là phát hiện những sai phạm trong hoạt động cho vay để ngăn ngừa rủi ro xảy ra. Tuy nhiên, công tác tổ chức, kiểm tra, kiểm soát nội bộ của các NHTM còn yếu kém sẽ dẫn đến việc phát hiện và xử lý không kịp thời những trƣờng hợp vi phạm, lợi dung trong hoạt động cho vay và nợ xấu phát sinh là điều tất yếu.
- Thiếu giám sát và quản lý sau khi cho vay: Các ngân hàng thƣờng tập trung nhiều thời gian và công sức cho việc thẩm định khách hàng trƣớc khi cho vay mà lơi lỏng quá trình giám sát và kiểm soát đồng vốn sau khi cho vay. Khi ngân hàng giải ngân thì khoản vay cần đƣợc quản lý một cách chủ động để đảm bảo đƣợc hoàn trả đầy đủ và đúng hạn. - Sự suy thoái về đạo đức, trình độ nghiệp vụ còn non kém của đội ngũ cán bộ ngân hàng: Cán bộ tín dụng là ngƣời trực tiếp giao dịch với khách hàng, nắm bắt đặc điểm cũng nhƣ chất lƣợng khách hàng, khoản vay. Điều này đòi hỏi cán bộ tín dụng phải có kiến thức, kinh nghiệm làm việc cũng nhƣ khả năng phân tích, dự báo… - Do công nghệ của mỗi ngân hàng: Công nghệ hiện đại sẽ tạo ra đột phá trong khai thác sản phẩm, dịch vụ cả về số lƣợng và chất lƣợng, gián tiếp khẳng định đƣợc đẳng cấp tên tuổi hình ảnh của Ngân hàng.
- Do cơ cấu tố chức của ngân hàng: Nếu ngân hàng đƣợc cơ cấu và phân định các phòng ban theo đối tƣợng khách hàng, kết hợp theo sản phẩm, dịch vụ: phân cấp quản lý theo mô hình nâng cao hiệu quả quản lý và tăng cƣờng kỹ năng quản trị rủi ro, tăng cƣờng chất lƣợng và hiệu quả hoạt động kinh doanh, mở rộng mạng lƣới và phát triển sản phẩm mới trên nền tảng công nghệ; Các phòng ban tại Trụ sở chính cũng nhƣ tại Ngân hàng đƣợc củng cố và chuyển đổi theo hƣớng sản phẩm và đối tƣợng khách hàng; 8 * Nguyên nhân từ phía khách hàng - Sự yếu kém trong hoạt động kinh doanh của khách hàng: Năng lực tài chính của doanh nghiệp không cao sẽ ảnh hƣởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh. Mặt khác, năng lực điều hành, quản lý kinh doanh của chủ doanh nghiệp vay vốn yếu kém cũng dẫn đến hoạt động kinh doanh kém hiệu quả từ đó ảnh hƣởng đến khả năng trả nợ của ngân hàng. - Rủi ro đạo đức: Một số doanh nghiệp cố ý thông báo số liệu tài chính của doanh nghiệp không chính xác làm cho các nhận định của cán bộ tín dụng về tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không chính xác. Một số doanh nghiệp có tƣ tƣởng lợi dụng kẽ hở của pháp luật để tính toán, lừa đảo, chiếm đoạt, sử dụng vốn sai mục đích nhằm kiếm lời và không có định trả nợ cho ngân hàng.
Quản lý nợ xấu của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về quản lý nợ xấu Khái niệm về quản lý Thông thƣờng, quản lý đồng nhất với các hoạt động tổ chức chỉ huy, điều khiển, động viên, kiểm tra, điều chỉnh. theo lý thuyết hệ thống, do vậy: “Quản lý là sự tác động có hƣớng đích của chủ thể quản l đến một hệ thống nào đó nhằm biến đổi nó từ trạng thái này sang trạng thái khác theo nguyên lý phá vỡ hệ thống cũ để tạo lập hệ thống mới và điều khiển hệ thống”.