phần mở đầu và kết luận, bố cục dự kiến luận văn gồm 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết về quản lý nợ xấu của ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nợ xấu tại Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam – Chi nhánh Nam Đồng Nai Chƣơng 3: Giải pháp cải thiện hoạt động quản lý nợ xấutại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Nam Đồng Nai 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN LÝ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Khái niệm nợ xấu của NHTM NHTM là trung gian tài chính quan trọng bậc nhất của nền kinh tế, đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển nơi mà thị trƣờng chứng khoán chƣa phát huy hết vai trò của mình trong kênh truyền dẫn trực tiếp.NHTM thực hiện chức năng trung gian tài chính, nhận tiền gửi từ các chủ thể thừa vốn để cấp tín dụng đế những chủ thể cần vốn, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế.Có nhiều định nghĩa khác nhau về NHTM. Rose (2007), ngân hàng là bất cứ doanh nghiệp nào cung cấp dịch vụ tiền gửi (bao gồm cả tiền gửi thanh toán và cung cấp dịch vụ tín dụng. Theo Bùi Diệu Anh và cộng sự (2013), NHTM là trung gian tài chính đƣợc phép thực hiện toàn bộ các hoạt động cốt lõi gồm nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản và những dịch vụ khác nhằm mục tiêu lợi nhuận.Dựa vào những khái niệm trên có thể thấy, hoạt động tín dụng là hoạt động quan trọng của các NHTM. Tín dụng ngân hàng đƣợc hiểu là “việc ngân hàng thỏa thuận chuyển giao quyền sử dụng tài sản cho khách hàng trong một khoảng thời gian xác định; sau khoảng thời gian đó, khách hàng phải hoàn trả gốc và lãi theo thỏa thuận”.
Hoạt động tín dụng tạo ra nguồn thu từ lãi cho ngân hàng, là nguồn thu chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu thu nhập của các NHTM. Tuy nhiên, một trong những đặc điểm quan trọng của tín dụng chính là luôn tiềm ẩn rủi ro tín dụng, gây ra thiệt hại, tổn thất cho ngân hàng. Rủi ro tín dụng, theo Ủy ban giám sát hoạt động ngân hàng BCBS, là việc khách hàng vay không trả đƣợc nợ gốc và lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, thể hiện thông qua các khoản nợ chậm trả, nợ quá hạn và nợ xấu. Khái niệm nợ xấu là khái niệm xuất hiện trong nhiều nghiên cứu nhƣng chƣa thực sự có một khái niệm đồng nhất cũng nhƣ có nhiều phƣơng thức khác nhau để phân loại nợ xấu, tùy theo quy định của mỗi quốc gia.
Nợ xấu là một khái niệm phức tạp và các phƣơng thức phân loại nợ xấu cũng rất đa dạng. Nợ xấu (non performing loan, bad debt), theo Miskin (2010), là thuật ngữ để chỉ các khoản vay đã quá hạn trả gốc và/hoặc lãi 90 ngày trở lên. Trong văn bản hƣớng dẫn thông lệ chung về quản lý rủi ro tài chính, BCBS đã mô tả nợ xấu là khoản nợ không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc 8 cả hai điều kiện xảy ra: Ngân hàng thấy ngƣời vay không có khả năng hoàn trả mặc dù ngân hàng chƣa có động thái nào trong việc thu hồi khoản vay hoặc/và ngƣời vay đã quá hạn trả nợ 90 ngày. Từ những khái niệm trên, nợ xấu đƣợc hiểu là những khoản cho vay của ngân hàng mà khách hàng vay chƣa trả nợ gốc và/lãi từ 90 ngày trở lên hoặc có cơ sở để đánh giá khách hàng không còn khả năng trả nợ.
Đây cũng là cách hiểu về nợ xấu đƣợc áp dụng trong các nghiên cứu của Nguyễn Hồng Vinh (2017), Đinh Thị Thanh Vân (2012), Đinh Mai Long (2015)… 1.2 Phân loại nợ xấu của NHTM Phân loại nợ có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá chất lƣợng tín dụng của ngân hàng. Dựa trên cơ sở phân loại nợ, ngân hàng sẽ đánh giá đƣợc mức độ rủi ro trong hoạt động tín dụng, từ đó, chủ động trích lập dự phòng rủi ro tín dụng để đối phó với rủi ro cũng nhƣ xác định cách thức để quản lý, giảm thiểu các khoản nợ quá hạn, nợ xấu. Việc phân loại nợ đƣợc thực hiện dựa trên các tiêu chí định tính và định lƣợng tùy thuộc vào mỗi quốc gia.Tổng hợp các quy định của một số quốc gia trên thế giới về nợ xấu trong nghiên cứu của Bholat và cộng sự (2016), Nguyễn Thị Hồng Vinh (2017) trong bảng 1. Tại Việt Nam, NHNN quy định các NHTMphân nợ thành 5 nhóm trong Thông tƣ số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/1/2013 của NHNN quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phƣơng pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài.
Theo quy định của NHNN, dƣ nợ của các NHTM Việt Nam đƣợc phân thành 5 nhóm nợ gồm: nhóm 1 – nợ đủ tiêu chuẩn, nhóm 2 – nợ cần chú ý, nhóm 3 – nợ dƣới tiêu chuẩn, nhóm 4 – nợ nghi ngờ, nhóm 5 – nợ có khả năng mất vốn. Quy định phân loại nợ thành 5 nhóm nợ của NHNN Việt Nam là phù hợp với thông lệ quốc tế theo khyến nghị của BCBS và các quốc gia phát triển khác nhƣ Singapore, Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nga.1: Phân loại nợ của các nƣớc trên thế giới Số lƣợng Quốc gia Ghi chú nhóm vay Argentina 6 Các khoản vay bao gồm: (i) Nợ đủ tiêu chuẩn; (ii) Nợ đặc biệt theo sát; (iii) Nợ dƣới tiêu chuẩn; (iv) Nợ có rủi ro cao; (v) Nợ không thể thu hồi dựa trên các tiêu chí kĩ thuật Brazil 9 Các khoản vay bào gồm: (i) Khoản nợ quá hạn 90 ngày; (ii) Nợ không quá 90 ngày nhƣng đƣợc xếp loại E, F, G hoặc H, theo các quy định phân loại rủi ro; (iii) nợ tái cơ cấu. Phân loại nợ theo 9 nhóm AA, A, B, C, D, E, F, G hoặc H Trung Quốc 5 Theo các quy tắc giám sát, phân loại nợ bao gồm nợ đủ tiêu chuẩn, nợ cần chú ý, nợ dƣới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ mất vốn Đức 4 Bao gồm: cho vay không rủi ro, cho vay có dấu hiệu rủi ro, nợ có dấu hiệu không thu hồi, nợ xấu Indonesia 5 Nợ xấu là các khoản vay phân loại là nợ dƣới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn Hàn Quốc 5 Bao gồm: nợ đủ tiêu chuẩn, nợ cần chú ý, nợ dƣới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn. Nợ xấu là khoản nợ phản ánh khả năng trả nợ suy giảm và rủi ro phá sản cao Mexico 7 7 nhóm đƣợc phân loại dựa trên rủi ro quốc gia, rủi ro tài chính, rủi ro ngành và lịch sử thanh toán Nga 5 Các khoản vay bao gồm (i) Nợ đủ tiêu chuẩn – không có rủi ro tín dụng; (ii) Nợ dƣới chuẩn – rủi ro tín dụng trung bình; (iii) Nợ khó đòi – rủi ro tín dụng đáng kể Nguồn: Bholat và cộng sự (2016) (trích từ Nguyễn Thị Hồng Vinh, 2017) 1 1.3 Tác động của nợ xấu Nợ xấu gây ra không những tác động tiêu cực đến hoạt động của ngân hàng mà còn ảnh hƣởng đến khách hàng vay vốn và nền kinh tế.
Các tác động của nợ xấu trình bày trong luận văn đƣợc thu thập từ nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoài Phƣơng (2012), Trần Huy Hoàng và Nguyễn Thế Hà (2020), Đỗ Văn Độ (2007).1 Tác động của nợ xấu đến khách hàng Khách hàng vay vốn khi không thực hiện đúng và đủ nghĩa vụ trả nợ đã cam kết cho ngân hàng từ 90 ngày trở lên sẽ tạo ra các khoản nợ xấu cho ngân hàng. Khi khách hàng phát sinh nợ xấu, việc tiếp cận nguồn vốn vay từ các NHTM và các trung gian tài chính trên thị trƣờng chính thức sẽ bị hạn chế, do khách hàng có nợ xấu bị đánh giá không giữ đƣợc uy tín và khả năng trả nợ trong quá trình vay vốn. Không chỉ vậy, do rủi ro của khách hàng lớn nên chi phí sử dụng vốn của khách hàng cũng sẽ tăng lên. Những điều trên sẽ ảnh hƣởng không nhỏ đến việc vay vốn của khách hàng trong tƣơng lai để mở rộng sản xuất kinh doanh hoặc nhằm mục đích tiêu dùng trong tƣơng lai.2 Tác động của nợ xấu đến NHTM Vì hoạt động cấp tín dụng là hoạt động mang lại phần lớn nguồn thu nhập cho ngân hàng, do đó, NHTM là chủ thể chịu sự tác động trực tiếp của nợ xấu.
Nợ xấu có thể làm cho ngân hàng phải gia tăng chi phí quản lý khoản vay, chi phí trích lập dự phòng rủi ro tín dụng, giảm lợi nhuận, căng thẳng thanh khoản và có thể dẫn đến thua lỗ. Cụ thể: - Nợ xấu ảnh hƣởng đến khả năng thanh khoản của NHTM: Là trung gian tài chính nên ngân hàng đóng vai trò là trung gian thanh khoản đảm bảo cho quá trình luân chuyển vốn liên tục. Trong quá trình đó, ngân hàng phải đảm bảo nguồn vốn để khách hàng gửi tiền hoặc ngƣời vay đã ký hợp đồng tín dụng có thể rút tiền bất kỳ khi nào. Nếu khách hàng chậm trả nợ, không theo thỏa thuận sẽ làm thay đổi kế hoạch quản trị vốn của ngân hàng.
Điều này có thể làm cho ngân hàng căng thẳng thanh khoản.Nếu tỷ lệ nợ xấu ở mức cao và không có biện pháp phù hợp để quản trị thanh khoản, ngân hàng có thể phá sản. 1 - Nợ xấu làm giảm lợi nhuận của ngân hàng thƣơng mại: Khi nợ xấu xảy ra, ngân hàng vừa không thu đƣợc lãi vay trong khi Ngân hàng phải bỏ ra nhiều chi phí: quản lý nợ xấu, trích dự phòng rủi ro. Thu không đủ bù chi có thể làm cho lợi nhuận ngân hàng sụt giảm, thậm chí thua lỗ và dẫn đến phá sản. - Nợ xấu làm giảm uy tín của ngân hàng thƣơng mại: NHTM là trung gian tài chính.
Do đó, muốn huy động đƣợc vốn ngân hàng cần phải có uy tín đối với ngƣời gửi tiền. Hoạt động tín dụng là hoạt động phản ánh khả năng sử dụng nguồn vốn huy động của ngân hàng.Nếu ngân hàng nào có nhiều nợ xấu, tỷ lệ nợ xấu cao sẽ đƣợc xem nhƣ có chất lƣợng tín dụng thấp, rủi ro cao. Điều này sẽ làm ảnh hƣởng đến uy tín của ngân hàng, từ đó sẽ tác động tiêu cực đến hoạt động huy động vốn nói riêng và hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung.