CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NỢ XẤU TRONG CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP 1.1 Cơ sở lý luận về hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp 1.1 Khái niệm cho vay khách hàng doanh nghiệp Tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc hoàn trả. Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ từ người sở hữu sang người sử dụng, sau một thời gian nhất định trả lại với một lượng lớn hơn. Tín dụng ngân hàng được hiểu là quan hệ vay mượn lẫn nhau theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi theo một thời gian nhất định, giữa một bên là NHTM và một bên là các cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức tín dụng, các NHTM khác. Tín dụng là hoạt động quan trọng và có quy mô lớn nhất trong toàn bộ hoạt động của NHTM.
Phần lớn vốn huy động được ngân hàng dùng để cho vay. Thu nhập từ hoạt động cho vay đóng góp lớn vào lợi nhuận của ngân hàng. Theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam 2005: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” “Cho vay đối với KHDN tại NHTM là một hình thức cấp tín dụng theo đó NHTM giao cho KHDN một khoản tiền để sử dụng vào một mục đích nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi.” Cho vay khách hàng doanh nghiệp là loại cho vay chiếm tỷ trọng lớn nhất trong hoạt động cho vay của ngân hàng. Điều này không chỉ đúng với các nước đang phát triển mà còn đúng với cả những nước có thị trường tài chính phát triển.
Cho vay doanh nghiệp chiếm khoảng 70% hoạt động cho vay của các ngân hàng.2 Phân loại cho vay khách hàng doanh nghiệp Căn cứ vào thời hạn cho vay - Cho vay ngắn hạn: là các khoản cho vay có thời hạn không quá 12 tháng và chủ yếu được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp. - Cho vay trung hạn: Là các khoản vay có thời hạn từ 12 tháng đến 5 năm. Cho vay trung hạn thường được để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, xây dựng các dự án quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh. Luan van 4 - Cho vay dài hạn: Là các khoản cho vay có thời hạn trên 5 năm.
Mục đích sử dụng vốn vay gần như cho vay trung hạn nhưng với quy mô lớn, thời hạn thu hồi vốn lâu hơn. Căn cứ vào mục đích cho vay - Cho vay kinh doanh bất động sản: Gồm các khoản cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng bất động sản nhà cửa, đất đai, bất động sản trong lãnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ. - Cho vay công nghiệp và thương mại: Là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lãnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ. - Cho vay các định chế tài chính: Bao gồm cấp tín dụng cho các ngân hàng, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ tín dụng và các công ty tài chính khác.
- Cho thuê: Cho thuê các định chế tài chính bao gồm hai loại cho thuê vận hành và cho thuê tài chính. Tài sản cho thuê bao gồm bất động sản và động sản, trong đó chủ yếu là máy móc thiết bị. Căn cứ vào mức độ tín nhiệm - Cho vay không đảm bảo: là loại vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, việc cấp tín dụng chủ yếu dựa vào mức độ tín nhiệm và uy tín của khách hàng; năng lực tài chính của khách hàng, phương án vay hiệu quả và khả thi. - Cho vay có đảm bảo: Là loại vay dựa trên cơ sở các tài sản đảm bảo như thế chấp, cầm cố bằng tài sản của khách hàng; hoặc phải có sự bảo lãnh cầm cố, thế chấp bằng tài sản của người thứ ba; hay cho vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay.
Căn cứ vào phương pháp cho vay - Cho vay trực tiếp: Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu, đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng. - Cho vay gián tiếp: Là khoản vay được thực hiện thông qua việc mua lại các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán.3 Vai trò của cho vay khách hàng doanh nghiệp Để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh diễn ra liên tục, các DN phải có lượng vốn đủ lớn. Bên cạnh nguồn vốn tự có (vốn chủ) và tín dụng thương mại, nguồn vốn vay từ NH từ lâu đã trở thành một nguồn vốn thường xuyên và quan trọng, quyết định Luan van 5 sự tồn tại và phát triển của DN. Hoạt động cho vay của NHTM sẽ hỗ trợ DN nguồn vốn để tái sản xuất, mở rộng sản xuất theo cả chiều sâu và chiều rộng.
Nếu chỉ dựa vào nội lực và nguồn lợi nhuận giữ lại để tái sản xuất thì sẽ không đạt hiệu quả cao nhất, và mất nhiều thời gian. Khi DN tiếp cận được nguồn vốn vay, sẽ chớp được thời cơ để tiến hành sản xuất kinh doanh, tăng thu nhập, giải quyết vấn đề việc làm, đóng góp vào thu nhập quốc dân… Đồng thời doanh nghiệp có cơ hội dịch chuyển vốn đầu tư từ ngành này sang ngành khác. Việc ngân hàng cho vay doanh nghiệp thuộc các ngành phù hợp với yêu cầu sử dụng vốn của nền kinh tế một cách hiệu quả, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Hoạt động vay vốn cũng làm tăng sức cạnh tranh giữa các doanh nghiệp với nhau và với các doanh nghiệp ngoài nước khác.
Doanh nghiệp sẽ phải có phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả, quản lý tài chính tốt, không ngừng nâng cao chất lượng nguồn lao động, có thế mới tiếp cận và sử dụng được nguồn vốn vay một cách hiệu quả, tăng doanh thu, lợi nhuận giữ lại. Việc tiếp cận được nguồn vốn vay đặt ra cho doanh nghiệp luôn phải có trách nhiệm với từng đồng vốn vay khi chịu sự giám sát và kiểm tra của các ngân hàng, TCTD. qua đó thúc đẩy DN kinh doanh lành mạnh, hiệu quả hơn.Cơ sở lý luận về nợ xấu 1.1 Khái niệm nợ xấu Nợ xấu hay nợ khó đòi là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể quá hạn và bị nghi ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ, điều này thường xảy ra khi các con nợ đã tuyên bố phá sản hoặc đã tẩu tán tài sản. Nợ xấu gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên thường quá ba tháng căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng để hạch toán các khoản vay vào các nhóm thích hợp.
Như vậy, về cơ bản thì những khoản nợ được phân vào các nhóm nợ 3, 4 và 5 (bao gồm nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn) được coi là nợ xấu. Trên cơ sở kết quả phân loại nợ, TCTD chủ động thực hiện hạch toán, trích lập dự phòng rủi ro theo quy định. Tuy nhiên trên thực tế các TCTD xem xét nợ xấu chủ yếu dựa trên các đánh giá về khả năng thu hồi các món vay. Đối với các khoản nợ đã đến hạn nhưng chưa trả, người ta ít quan tâm xem các món nợ đó đã quá hạn bao nhiêu ngày, mà xem xét khả năng thu hồi nợ lúc này là bao nhiêu.
Điều đó có nghĩa là một món vay cho Luan van 6 dù mới chỉ quá hạn một ngày nhưng ngân hàng thấy rõ và xác minh được khả năng thua lỗ và có dấu hiệu của sự lừa đảo. thì món vay này cũng được coi là nợ xấu.2 Bản chất của nợ xấu Hoàn trả đầy đủ khoản nợ gốc và lãi cho Ngân hàng đến thời điểm đáo hạn là hành động hoàn tất mối quan hệ tín dụng hoàn hảo giữa ngân hàng và khách hàng. Như vậy, nợ xấu trong hoạt động tín dụng NHTM là hiện tượng phát sinh từ mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo khi người đi vay ( khách hàng ) không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ của mình cho Ngân hàng đúng hạn. Nợ xấu nói chung được xem như một dấu hiệu của vấn đề rủi ro tiềm ẩn.
Tuy nhiên, thực tế một khoản nợ xấu thì cho biết rất ít vấn đề, để xác định bản chất vấn đề phải tìm hiểu nguyên nhân của khoản nợ đó. Nếu khoản nợ xấu là một biểu hiện của việc khách hàng không muốn hoặc không có khả năng hoàn trả thì có thể khoản vay đã có vấn đề nghiêm trọng và có nguy cơ không cứu vãn được. Nếu khoản nợ chỉ hình thành do việc tiêu thụ hàng hóa hoặc thu hồi các khoản phải thu chậm hơn dự tính hoặc do việc chẫm trễ không tính trướcc trong việc chuyển từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ trên thị trường, thì vấn đề chưa đến mức nghiêm trọng. Như vậy, có thể thấy bản chất nợ xấu là kết quả của mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo, trước hết vì nó vi phạm đặc trưng của hoạt động tín dụng, gây nên sự đổ vỡ lòng tin của người cung cấp tín dụng với khách hàng nhận tín dụng.3 Các chỉ tiêu phản ánh nợ xấu của Ngân hàng thương mại - Tổng số nợ xấu: đây là chỉ tiêu phản ánh chung giá trị tuyệt đối của toàn bộ khoản nợ xấu của ngân hàng.
- Tỷ lệ giữa giá trị các khoản nợ xấu/ tổng dư nợ: chỉ tiêu này phản ánh mức độ rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại. Tỷ lệ này càng cao thì khả năng rủi ro càng cao. Nếu như tỷ lệ này lớn hơn 7% thì ngân hàng bị coi là có chất lượng tín dụng yếu kém, còn nếu nhỏ hơn 5% thì được coi là chất lượng tín dụng tốt, các khoản cho vay an toàn. - Tỷ lệ nợ khó đòi/ tổng dư nợ và nợ khó đòi/ nợ xấu: Các chỉ số này phản ánh chỉ tiêu tương đối của nợ khó đòi.
Đây là những chỉ tiêu phản ánh khá trung thực về thực tế và nguy cơ mất vốn của ngân hàng. Tỷ lệ này càng lớn thì khả năng rủi ro mất vốn của ngân hàng càng cao.