MỤC LỤC DẪN LUẬN. Mục đích nghiên cứu. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu. Phƣơng pháp nghiên cứu.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề. Luận án cố gắng có những đóng góp mớí. Cấu trúc của luận án. 25 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LỊCH SỬ- CHÍNH TRỊ CỦA ĐỊNH CHẾ .Yêu cầu “nhất thống” về quyền lực của triều Nguyễn.
Quan niệm của triều Nguyễn về phép luật và quan lại. Triều Nguyễn và giá trị của di sản định chế trƣớc thế kỷ XIX. 41 CHƢƠNG 2: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH ĐỊNH CHẾ - VIỆC LÀM LUẬT CỦA TRIỀU NGUYỄN. Sự thiết lập các văn bản định chế.
Sự tham khảo luật nhà Lê và luật nhà Thanh. 65 CHƢƠNG 3: QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN ĐỊNH CHẾ - VIỆC DÙNG LUẬT CỦA TRIỀU NGUYỄN. Định chế là công cụ tổ chức và duy trì quyền lực nhà nƣớc. Quá trình tổ chức hoạt động hành chính của quan chức.
Quá trình thực hiên chế tài hình sự đối với quan chức. Tác dụng của định chế đối với xã hội thời Nguyễn. 190 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO. Mục đích nghiên cứu Quản lý nhà nƣớc và củng cố pháp quyền là một trong những nội dung quan trọng của công cuộc dựng nƣớc và giữ nƣớc từ ngàn đời của tổ tiên ta, dân tộc ta.
Việc nghiên cứu những di sản này của lịch sử và đánh giá đúng về quá khứ sẽ giúp ích nhiều cho ngày nay, nhất là trong thời kỳ chúng ta đang tiến hành việc cải cách bộ máy nhà nƣớc, xây dựng đội ngũ công chức và tăng cƣờng hiệu lực quản lý nhà nƣớc theo phƣơng hƣớng "nhà nƣớc quản lý xã hội bằng pháp luật" ([122],129). Từ trong di sản của quá khứ, có thể tìm thấy những kinh nghiệm và bài học của ngƣời xƣa, bổ sung cho kiến thức về quản lý nhà nƣớc, xây dựng và củng cố pháp quyền trong công cuộc đổi mới đất nƣớc của chúng ta. Chính vì vậy, bên cạnh những kinh nghiệm và kiến thức của thời hiện đại, các vấn đề thuộc lĩnh vực nhà nƣớc và pháp quyền trong lịch sử dân tộc đã đƣợc các nhà khoa học nƣớc ta rất quan tâm. Trong những năm gần đây, có nhiều công trình đã nghiên cứu hoặc đề cập những nội dung này của thời Lý, thời Trần, đặc biệt thời Lê dƣới triều Lê Thánh Tông.
về thời Nguyễn, giai đoạn lịch sử có nhiều biến cố và gần với thời đại của chúng ta hơn cả, những vấn đề thuộc lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội đã đƣợc nghiên cứu nhiều, riêng các vấn đề thuộc lĩnh vực nhà nƣớc và pháp luật cho đến nay vẫn đang cần những công trình chuyên khảo, cần thêm tƣ liệu, cần sự phân tích tỉ mỉ và khoa học, cần tiếp tục làm rõ quá trình lịch sử của những hiện tƣợng "đáng khen" và "đáng chê" để có những nhận định thỏa đáng. Đồng thời, trong việc nghiên cứu, cần đặt triều Nguyễn trong mối tƣơng quan khu vực với các quốc gia châu Á để có một cái nhìn khách quan về trình độ phát triển của xã hội Việt Nam vào thời điểm trƣớc khi trở 4 thành thuộc địa của chủ nghĩa thực dân phƣơng Tây. Trong nội dung môn Lịch sử Việt Nam đƣợc giảng dạy ở trƣờng đại học, việc đánh giá pháp luật thời Nguyễn một cách khách quan, việc nhận thức triều Nguyễn nhƣ một hệ thống quản lý đất nƣớc với những định chế về tổ chức và hoạt động.cũng đang đòi hỏi sự nghiên cứu cụ thể, toàn diện và có hệ thống trên cơ sở tƣ liệu, để tiếp tục làm rõ hơn những bài học lịch sử của thời kỳ này. Đề tài "Định chế quản lý nhà nƣớc thời Nguyễn" đƣợc nghiên cứu nhằm góp phần đáp ứng những yêu cầu nói trên của thực tiễn và khoa học.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Khái niệm "định chế" và "quản lý nhà nƣớc" trong tên đề tài cần đƣợc giải thích để làm rõ nội dung và phạm vi nghiên cứu của luận án. "Quản lý" có nghĩa thông thƣờng là chăm nom, cai quản, điều hành công việc. Từ "quản lý" trong một số ngôn ngữ phƣơng Tây có nguồn gốc từ chữ la-tinh "manus" nghĩa là bàn tay, theo nghĩa gốc là "nắm vững trong tay". Trên văn bản, ngƣời thời Nguyễn thƣờng chỉ dùng từ "chƣởng quản" nghĩa là trông coi, cai quản, trong đó chữ "chƣởng" cũng có nghĩa là bàn tay.
"Quản lý nhà nƣớc" là một thuật ngữ của ngày nay, đƣợc sử dụng khá phổ biến trong khoa học và thực tiễn với nhiều nghĩa rộng hẹp khác nhau. Dùng khái niệm "quản lý nhà nƣớc", chúng tôi muốn nghiên cứu triều Nguyễn không phải từ góc độ là một tập đoàn phong kiến thống trị, áp bức nhân dân mà từ góc độ là một nhà nƣớc, một hệ thống cai quản và điều hành công việc quốc gia. Do góc độ nghiên cứu này, vấn đề "quản lý nhà nƣớc", với nghĩa là sự quản lý của nhà nƣớc, đƣợc xem là một lĩnh vực hoạt 5 động xã hội của những con người, nhà nƣớc là một tập hợp, một tổ chức của những ngƣời có vị trí, chức năng và quyền hạn trong sự cai quản, điều hành công việc quốc gia. Vào thời Nguyễn, họ đƣợc gọi là các "quan chức".
Trong các văn bản pháp luật bấy giờ, họ đƣợc định danh là "quan" và "lại". Chẳng hạn, Điều 312 của bộ luật Gia Long quy định "Quan lại nhận hối lộ bị xử tội tính theo tang vật, quan thì bị truy đòi các cáo sắc phẩm tƣớc và bị xóa tên trong sổ bộ quan, lại thì bị bãi dịch, thôi chức". "Định chế" là từ đƣợc dùng trong các văn bản của triều đình nhà Nguyễn. Theo cách nói bấy giờ và kết cấu Hán của từ này, "định chế" có nghĩa là chế độ đã được định ra.
Ví dụ, Điều 49 của bộ luật Gia Long quy định việc cấm lạm đặt quan lại có ghi rằng: "Số quan ở các nha môn đã có ngạch định rồi, mà ngoại ngạch lại đặt thêm ngƣời là vi phạm định chế, hễ thêm 1 ngƣời bị phạt 100 trƣợng, cứ mỗi 3 ngƣời thêm 1 bậc tội, xử đến 100 trƣợng, tù lao dịch 3 năm", hoặc trong Dụ của vua Minh Mệnh năm 1827 về việc tâu bày của quan chức các bộ có câu: "định chế quý ở chỗ chu đáo rõ ràng" ([54],46).Dƣới triều Nguyễn, định chế mang dấu ấn uy quyền của nhà vua, có tính bắt buộc chung đối với xã hội, ai làm trái sẽ bị trừng trị(1). Định chế hàm chứa quyền lực nhà nƣớc và có tính cƣỡng chế, tức là có ý nghĩa pháp luật. Từ "định chế" của thời xƣa đƣợc nhiều nhà nghiên cứu thời nay, nhất là các luật gia, dùng nhƣ một khái niệm của ngôn ngữ pháp lý, thƣờng chỉ một tổ hợp các quy định, quy chế, thể lệ. đã đƣợc chính thức viết thành văn bản, do cơ quan lập pháp của nhà nƣớc thông qua, tạo thành một chế độ pháp luật dành cho một lĩnh vực quan hệ xã hội nào đó, chẳng hạn định chế (1) Theo bộ luật Gia Long, bất cứ ngƣời nào nhận đƣợc các loại chế thƣ (chiếu, lệnh, dụ chỉ) của nhà vua mà không thi hành sẽ bị phạt đánh 100 trƣợng, nếu thi hành chậm trễ thì cứ chậm 1 ngày bị phạt đánh 50 roi (Điều 60).
6 hôn nhân, định chế doanh nghiệp. Nhƣ vậy, khái niệm "định chế" trong cách dùng xƣa và nay đều bao hàm ý nghĩa pháp luật. Vấn đề "định chế quản lý nhà nƣớc" còn chứa đựng nhiều nội dung, nếu xét ở khía cạnh hành chính học, luật học chẳng hạn. Trong phạm vi nghiên cứu của luận án ở khía cạnh sử học, với cách nhìn vấn đề quản lý nhà nƣớc là một hoạt động xã hội của con ngƣời, chúng tôi quan niệm định chế quản lý nhà nƣớc thời Nguyễn là chế độ đƣợc định ra dành cho những ngƣời làm việc cai quản và điều hành quốc gia, đó là giới quan chức, đƣợc gọi ngắn gọn bằng một thuật ngữ riêng của luận án là định chế quan chức.
Đây là một nội dung của pháp luật, của thiết chế chính trị - xã hội bấy giờ. Ý nghĩa pháp luật của định chế là một cơ sở để đánh giá trình độ cầm quyền của các vua Nguyễn. Pháp luật của triều Nguyễn, một triều đại quân chủ phƣơng Đông, gắn liền với quyền uy tối cao và tuyệt đối của nhà vua. Vua đƣợc coi là kẻ "thay trời trị dân", là "con trời".
Mệnh lệnh, quyết định của vua dƣới dạng các chiếu, chỉ, sắc, dụ. luôn có giá trị pháp lý cao nhất. Những điều luật đƣợc các quan soạn thảo cũng xuất phát từ ý nguyện của vua, đƣợc vua phê chuẩn. Tính chất pháp luật của định chế là ở chỗ thể hiện uy quyền tối cao đó.
Do vậy, về hình thức văn bản, ngoài những điều luật đƣợc ghi trong bộ luật Gia Long, định chế quan chức thời Nguyễn đƣợc thể hiện rải rác trong các chiếu, chỉ, sắc, dụ của nhà vua, những tờ tấu nghị đƣợc vua phê chuẩn, những điều sửa chữa và bổ sung cho bộ luật dƣới các triều (2) Tác giả Vũ Quốc Thông trong Pháp chế sử Việt Nam ([112],7-8) gọi định chế là "những thể lệ căn bản đã đƣợc nhà cầm quyền đặt ra hoặc thừa nhận, để quy định cách tổ chức và các phƣơng thức sinh hoạt của quốc gia nói chung, cũng nhƣ các mối tƣơng quan giữa những ngƣời dân nói riêng sống ở trong quốc gia đó ". Xin xem thêm Nguyễn Phan Quang, Phan Đăng Thanh. Mấy vấn đề về quản lý nhà nước và củng cố pháp quyền trong lịch sử Việt Nam ([103]), Vũ Văn Mẩu -Cổ luật Việt Nam và tư pháp sử ([36]). 7 Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức, những "sự lệ" đƣợc chép thành Hội điển.
Tất cả thƣờng đƣợc gọi chung là "luật nƣớc", hay "phép vua" theo ngôn ngữ dân gian. "Lệ làng" với các hƣơng ƣớc, khoán ƣớc, luật tục cùng hệ thống quản lý của các làng không thuộc phạm vi khảo cứu chi tiết của đề tài. Thời Nguyễn chƣa có những ngành luật cụ thể và riêng biệt nhƣ luật nhà nƣớc, luật hành chính, luật dân sự. theo cách gọi ngày nay.
Do vậy, về nội dung, định chế quan chức bao gồm những quy định đƣợc ban hành trong lĩnh vực hoạt động nhà nƣớc mà đối tƣợng phải tuân thủ và thực hiện là quan chức, những quy định về các tội danh chỉ có quan chức mới mắc phải khi thi hành công vụ, những quy định chế ƣớc mà quan chức vi phạm sẽ bị trừng trị.