Chương 1: Tổng quan về doanh nghiệp nhà nước va quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước; Chương 2: thực trạng pháp luật về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước hiện nay; Chương 3: một số định hướng và giải pháp sắp xếp, đổi mới quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước hiện nay. Hoàn thành Luận văn này ngoài sự cô găng của bản thân còn được sự giúp đỡ quý báu của PGS. Nguyễn Viết Tý Chức vụ Trưởng khoa Luật kinh tế trường Đại học Luật Hà Nội cùng với sự giúp đỡ của các đồng chi, đồng nghiệp va những người quan tâm đến đề tai nay. Song do điều kiện thời gian nghiên cứu có hạn, hơn nữa đây là lĩnh vực trong thực tiễn còn nhiều vướng mắc, phức tạp do vậy sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, người viết mong được sự tiếp tục đóng góp ý kiến bổ sung của Quý thay, Quý cô và những đồng chí quan tâm đến đề tai.
TONG QUAN VE DOANH NGHIEP NHA NUOC VA | QUAN LY NHÀ NƯỚC ĐÔI VOI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 1. Khái niệm, đặc điểm và các loại hình doanh nghiệp nhà nước 11. Khai niệm doanh nghiệp nhà nước Doanh nghiệp nhà nước có lịch sử tồn tại khá lâu đời và hiện đang giữ vai trò chủ đạo trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay. Trong từng giai đoạn khác nhau, quan điểm pháp lý về doanh nghiệp nhà nước cũng có những đặc thù và thay đổi nhất định phù hợp với thực tiễn kinh doanh.
Trong thời gian đầu của quá trình đổi mới nền kinh tế ở Việt Nam, doanh nghiệp nhà nước được quan niệm là những tổ chức kinh doanh do Nhà nước đầu tư 100% vốn điều lệ (Điều 1 Nghị định 388/HDBT ngày 20 tháng 11 năm 1991). Doanh nghiệp nhà nước còn bao gồm cả những tổ chức kinh tế hoạt động công ích của Nhà nước (Điều | Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 1995). Doanh nghiệp nhà nước theo cách hiểu này đã được tiếp cận điều chỉnh bởi pháp luật có sự khác biệt rõ rệt với các loại hình doanh nghiệp khác về vấn đề chủ sở hữu cũng như tô chức và quản lý hoạt động của doanh nghiệp. Từ những thay đổi về tư duy quản lý kinh tế và điều chỉnh pháp luật đối với các doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp nhà nước (2003) đã có định nghĩa mới về doanh nghiệp nhà nước.
Theo Luật này, doanh nghiệp nhà nước được hiểu là tô chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cô phan, von góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nha nước, công ty cổ phan, công ty trách nhiệm hữu hạn (Điều 1 Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2005). Cũng có thé hiểu “Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ”. Theo quy định này, phạm vi doanh nghiệp nhà nước đã được mở rộng đáng kê, theo đó doanh nghiệp nhà nước bao gồm ba hình thức là: công ty nhà ! Khoản 22 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2005. 11 nước, công ty cô phần nha nước và công ty trách nhiệm hữu han nhà nước 1 thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước 2 thành viên trở lên.
Đặc điểm của doanh nghiệp nhà nước Từ khái niệm doanh nghiệp nhà nước được ghi nhận tại Điều | Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003, có thé nhận thấy doanh nghiệp nhà nước có những đặc điểm sau: Thứ nhất, về sở hữu: doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cô phân, vốn góp chi phối. Đó là những doanh nghiệp do Nhà nước đầu tư toàn bộ vốn điều lệ để thành lập hoặc là những doanh nghiệp mà cổ phần hoặc vốn góp của Nha nước chiếm trên 50% vốn điều lệ. Như vậy, đặc điểm quan trọng của doanh nghiệp nhà nước là vốn của nó thuộc sở hữu nhà nước hoặc cơ bản thuộc về nhà nước. Tài sản của doanh nghiệp nhà nước là một bộ phận của tài sản Nhà nước.
Thứ hai, về quyền quyết định hoặc quyền chi phối đối với doanh nghiệp: vì doanh nghiệp nhà nước do nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cô phan, vốn góp chi phối nên nhà nước có toàn quyền định đoạt đối với doanh nghiệp hoặc quyền định đoạt đối với điều lệ hoạt động: đối với việc bồ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh quan lý; đối với việc tô chức quản lý và các quyết định quản lý quan trọng khác của doanh nghiệp. Thứ ba, về hình thức tồn tại: Doanh nghiệp nhà nước hiện nay rat đa dạng, nó có thê được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau như công ty nhà nước, công ty cổ phần nhà nước, công ty trách nhiệm hữu han nhà nước một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước có từ hai thành viên trở lên, doanh nghiệp có cô phần hay vốn góp chi phối của nhà nước. Tứ tư, về tư cách pháp lý và trách nhiệm tai sản: Doanh nghiệp nhà nước là tô chức kinh tế có tư cách pháp nhân, thực hiện hạch toán kinh doanh, lay tu bù chi và phải đảm bảo có lãi dé tồn tại và phát triển. Doanh nghiệp nha 12 nước có tài sản riêng va tự chịu trách nhiệm bằng tài sản riêng đó về mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (trách nhiệm hữu hạn)”.
Như vậy, doanh nghiệp nhà nước độc lập cả về kinh tế và pháp lý. Trong cơ chế thị trường hiện nay, Nhà nước không chịu trách nhiệm thay cho doanh nghiệp mà doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước về số vốn mà Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp và chịu trách nhiệm trước khách hàng bang tài san của mình. Các loại hình doanh nghiệp nhà nước Doanh nghiệp nhà nước được phân loại theo nhiều phương diện, góc độ khác nhau. * Dựa vào mục đích hoạt động gồm có: - Doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh: Là doanh nghiệp nhà nước hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu nhằm mục tiêu lợi nhuận.
- Doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích: Là doanh nghiệp nhà nước hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ công cộng theo các chính sách của Nhà nước, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quốc tế phòng an ninh. Việc phân loại theo tiêu thức này giúp doanh nghiệp tập trung vào mục tiêu hoạt động chính của mình. Nhà nước có cơ chế quản lý và có chính sách phù hợp với từng loại doanh nghiệp, đồng thời thực hiện việc mở rộng quyền và trách nhiệm của loại doanh nghiệp hoạt động kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận nhằm thực hiện 1 bước việc đưa loại doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh hoạt động trên cùng mặt băng pháp lý và bình đăng với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác đảm bảo khả năng cạnh tranh của loại doanh nghiệp này. * Dựa vào quy mô và hình thức gồm có: - Doanh nghiệp nhà nước độc lập: Là doanh nghiệp nhà nước không ở trong cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp khác, bao gồm: Công ty cỗ phan nhà ? Trách nhiệm hữu hạn - Theo mục b khoản 1 điều 38 luật doanh nghiệp 2005 13 nước, Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên, Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước có tư hai thành viên trở lên, Doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước.
- Doanh nghiệp thành viên và Tổng công ty Nhà nước. + Doanh nghiệp nhà nước thành viên: Là doanh nghiệp nằm trong cơ cau tổ chức của một doanh nghiệp lớn hơn. + Tổng công ty Nhà nước: Là doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn bao gồm các đơn vị thành viên có quan hệ gan bó với nhau về lợi ich kinh tế, tài chính, công nghệ, thông tin, đào tạo. trong một hoặc một SỐ chuyên ngành kinh tế kỹ thuật chính do Nhà nước thành lập nhằm tăng cường, tích tụ, tập trung, phân công chuyên môn hoá va hợp tác sản xuất dé thực hiện nhiệm vụ Nhà nước giao, nâng cao khả nang và hiệu quả kinh doanh của các đơn vi thành viên và của toàn Tổng công ty, đáp ứng nhu cầu của nên kinh tế.
* Dựa vào cách thức tổ chức, quan lý doanh nghiệp, gồm: - Doanh nghiệp nhà nước có hội đồng quản trị: Là doanh nghiệp nhà nước mà ở đó Hội đồng quản trị thực hiện chức năng quản lý hoạt động của doanh nghiệp chịu trách nhiệm trước Chính phủ hoặc cơ quan quản lý nhà nước được Chính phủ uy quyên về sự phát triển của doanh nghiệp. - Doanh nghiệp nhà nước không có hội đồng quản trị: Là doanh nghiệp nhà nước mà ở đó chỉ có giám đốc doanh nghiệp theo chế độ thủ trưởng. Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước Một trong những nội dung của quản lý nhà nước về kinh tế là nhằm thúc đây doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, thực hiện đúng các mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế do Nhà nước giao, làm cho doanh nghiệp ở Việt Nam phát huy đầy đủ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Theo Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003, Nhà nước thực hiện chức năng quản lí đối với doanh nghiệp nhà nước với hai tư cách: tư cách là cơ quan quyén lực nha nước và tư cách là chủ sở hữu.
Với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước, Nhà nước thông nhât quản lí nhà nước đôi với doanh nghiệp nhà nước với 14 những nội dung sau: ban hành chính sách, luật pháp, cơ chế và chế độ quản lí; quyết định các biện pháp Nhà nước bảo hộ và hỗ trợ các doanh nghiệp nhà nước quan trong; tổ chức xây dựng quy hoạch và chiến lược phát triển doanh nghiệp; tô chức xây dựng quy hoạch va dao tạo cán bộ; tô chức kiểm tra, thanh tra, chống tham ô, lãng phí, quan liêu, trốn thuế, lậu thuế.