phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, kết cấu của đề tài gồm 4 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về Quản lý nhà nước đối với các công trình thủy lợi Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Quản lý nhà nước đối với các công trình thủy lợi trên địa bàn huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu Chƣơng 4: Phương hướng và giải pháp tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các công trình thủy lợi trên địa bàn huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI 1. Một số vấn đề lý luận về QLNN đối với các công trình thủy lợi 1. Các khái niệm liên quan đến đề tài a) Các khái niệm liên quan đến quản lý nhà nước: * Khái niệm về quản lý: Trên thực tế tồn tại nhiều cách tiếp cận khái niệm “quản lý”. Thông thường, quản lý đồng nhất với các hoạt động tổ chức chỉ huy, điều khiển, động viên, kiểm tra, điều chỉnh… Theo lý thuyết hệ thống: “Quản lý là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản lý đến một hệ thống nào đó nhằm biến đổi nó từ trạng thái này sang trạng thái khác theo nguyên lý phá vỡ hệ thống cũ để tạo lập hệ thống mới và điều khiển hệ thống”.
Chúng ta cũng có thể hiểu quản lý là quá trình làm việc thông qua các cá nhân, các nhóm và các nguồn lực khác (thiết bị, vốn, công nghệ) để đạt được những mục tiêu của tổ chức. Quản lý được thử thách và đánh giá qua việc đạt được các mục tiêu thông qua sự tổ chức và thực hiện các kỹ năng khác nhau. Hoạt động quản lý phải do 4 yếu tố cơ bản sau cấu thành: - Chủ thể quản lý, trả lời câu hỏi: do ai quản lý? - Khách thể quản lý, trả lời câu hỏi: quản lý cái gì? - Mục đích quản lý, trả lời câu hỏi: quản lý vì cái gì? - Môi trường và điều kiện tổ chức quản lý, trả lời câu hỏi: quản lý trong hoàn cảnh nào? * Khái niệm về quản lý nhà nước: Khái niệm quản lý nhà nước (QLNN) theo nghĩa rộng : Là hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy nhà nước, nghĩa là bao hàm cả sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước trên các phương diện lập pháp hành pháp và tư pháp. Theo cách hiểu này, quản lý nhà nước được đặt trong cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân lao động làm chủ ".
7 Theo nghĩa hẹp, QLNN chủ yếu là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người theo pháp luật nhằm đạt được những mục tiêu yêu cầu nhiệm vụ QLNN. Đồng thời, các cơ quan nhà nước nói chung còn thực hiện các hoạt động có tính chất chấp hành, điều hành, tính chất hành chính nhà nước nhằm xây dựng tổ chức bộ máy và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình. Chẳng hạn ra quyết định thành lập, chia tách,sát nhập các đơn vị tổ chức thuộc bộ máy của mình; đề bạt, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức,ban hành quy chế làm việc nội bộ,. QLNN có thể hiểu đơn giản là sự chỉ huy, điều hành xã hội của các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp) để thực thi quyền lực Nhà nước, thông qua các văn bản quy phạm pháp luật.
* Quản lý nhà nước đối với các công trình thủy lợi: Quản lý nhà nước đối với các công trình thủy lợi (CTTL) được hiểu là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các CTTL nhằm đạt các mục tiêu của công tác thủy lợi QLNN đối với các CTTL tùy thuộc vào điều kiện cụ thể và quy mô phục vụ từng công trình mà áp dụng các biện pháp quản lý thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả công trình về mặt tưới tiêu cũng như tính bền vững của công trình. QLNN đối với các CTTL ở Việt Nam hiện hay được chia thành 4 cấp: - Cấp Trung ương: Do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, trực tiếp là Cục thủy lợi quản lý. - Cấp Tỉnh: Do Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, giao cho Chi cục thủy lợi quản lý. - Cấp huyện: Được giao cho Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn hoặc Phòng Kinh tế quản lý.
- Cấp xã: Giao cho cán bộ phụ trách về giao thông - thủy lợi quản lý. 8 b) Các khái niệm liên quan đến công trình thủy lợi * Khái niệm về thuỷ lợi: Thủy lợi được hiểu là những hoạt động liên quan đến ý thức con người trong quá trình khai thác, sử dụng tài nguyên nước để phục vụ lợi ích của mình. Những biện pháp khai thác nước bao gồm khai thác nước mặt và nước ngầm thông qua hệ thống bơm hoặc cung cấp nước tự chảy. Thủy lợi trong nông nghiệp là các hoạt động kinh tế - kỹ thuật liên quan đến tài nguyên nước được dùng trong nông nghiệp.
Điểm quan trọng của thủy lợi trong nông nghiệp là sử dụng hợp lý nguồn nước để có năng suất cây trồng và năng suất vật nuôi cao. Các nội dung của thuỷ lợi trong nông nghiệp bao gồm: * Xây dựng hệ thống thủy lợi: + Tạo nguồn nước thông qua việc xây đập làm hồ chứa hoặc xây dựng trạm bơm. + Xây dựng trạm bơm tưới và hệ thống kênh mương dẫn nước. - Thực hiện việc tưới và tiêu khoa học cho đồng ruộng.
Làm tăng năng suất cây trồng vật nuôi và phát triển các ngành kinh tế khác. • Công trình thủy lợi: là công trình thuộc kết cấu hạ tầng nhằm khai thác mặt lợi của nước; phòng, chống tác hại do nước gây ra, bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái, bao gồm: hồ chứa nước, đập, cống, trạm bơm, giếng, đường ống dẫn nước, kênh, công trình trên kênh và bờ bao các loại. Hệ thống công trình thủy lợi: bao gồm các công trình thủy lợi có liên quan trực tiếp với nhau về mặt khai thác và bảo vệ trong một khu vực nhất định. Thủy lợi phí: là phí dịch vụ về nước thu từ tổ chức, cá nhân sử dụng nước hoặc làm dịch vụ từ công trình thủy lợi cho mục đích sản xuất nông nghiệp để góp phần chi phí cho việc quản lý, duy tu, bảo dưỡng và bảo vệ công trình thủy lợi.
9 Tiền nước: là giá tiền trong hợp đồng dịch vụ về nước thu từ tổ chức, cá nhân sử dụng nước hoặc làm dịch vụ từ công trình thủy lợi ngoài mục đích sản xuất nông nghiệp. Phí xả nước thải: là phí thu từ tổ chức, cá nhân xả nước thải vào công trình thủy lợi để góp phần chi phí cho việc bảo vệ chất lượng nước. Tổ chức hợp tác dùng nước: là hình thức hợp tác của những người cùng hưởng lợi từ công trình thủy lợi, làm nhiệm vụ khai thác và bảo vệ công trình, phục vụ sản xuất, dân sinh Thủy nông: Hệ thống công trình thủy lợi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp được gọi là thủy nông. Sản phẩm của công trình thủy nông là nước tưới, nước tưới là yếu tố hàng đầu và không thể thiếu đối với sản xuất nông nghiệp.
Hệ thống thuỷ nông: là tập hợp các công trình làm nhiệm vụ lấy nước từ nguồn nước, dẫn vào đồng ruộng tưới cho cây trồng và tiêu hết lượng nước thừa trên đồng ruộng, bao gồm công trình lấy nước, hệ thống kênh mương lấy nước tưới tiêu và các công trình phục vụ trên hệ thống đó. Công trình lấy nước: Nguồn nước tưới trong nông nghiệp có thể là nước sông ngòi, nước trong các hồ chứa, nước thải của các thành phố, các nhà máy công nông nghiệp và nước ngầm ở dưới đất. Tuỳ theo nguồn nước và các điều kiện địa hình, thuỷ văn ở từng vùng mà các công trình lấy nước có thể xây dựng khác nhau, để phù hợp với khả năng lấy nước, vận chuyển nước về khu tưới và các địa điểm cần nước khác. Người ta thường gọi chúng là công trình đầu mối của hệ thống tưới.
Hệ thống kênh mương dẫn nước: bao gồm hệ thống tưới và hệ thống tiêu. Hệ thống tưới làm nhiệm vụ vận chuyển nước từ công trình đầu mối về phân phối cho hệ thống điều tiết nước mặt ruộng trên từng cánh đồng trong khu vực tưới. Hệ thống tiêu làm nhiệm vụ vận chuyển nước thừa trên mặt ruộng do tưới hoặc do mưa gây nên, ra khu vực chứa nước. 10 Theo tiêu chuẩn thiết kế hệ thống kênh tưới Việt Nam TCVN 4118- 85, hệ thống kênh tưới được phân ra như sau: - Kênh đầu mối: Dẫn nước từ nguồn đến kênh cấp 1.
- Kênh cấp 1: Lấy nước từ kênh đầu mối phân phối nước cho kênh cấp 2. - Kênh cấp 2: Lấy nước từ kênh nhánh cấp 1 phân phối cho kênh nhánh cấp 3. - Kênh cấp 3: Lấy nước từ kênh nhánh cấp 2 phân phối cho cấp kênh cuối cùng. - Kênh nhánh cấp 4: Còn là kênh nội đồng: Đây là cấp kênh tưới cố định cuối cùng trên đồng ruộng, phụ trách tưới cho khoảnh ruộng, thửa ruộng.
Khai thác các công trình thuỷ lợi: Là một quá trình vận hành, sử dụng và quản lý các công trình thuỷ nông nhằm đảm bảo cung cấp và tiêu thoát nước đúng kế hoạch tưới tiêu, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho khu vực tưới tiêu và xã hội. Thuỷ lợi phí: Là một phần phí dịch vụ về nước của công trình thuỷ lợi, để góp phần chi phí cho công tác duy tu, vận hành và bảo vệ công trình thuỷ lợi. Lý luận về quản lý nhà nước đối với các công trình thủy lợi 1. Hệ thống các văn bản pháp lý liên quan tới đề tài - Luật tài nguyên nước ngày 20 tháng 5 năm 1998.
- Pháp lệnh số 32/2001/PL-UBTVQH10 về khai thác và bảo vệ các công trình thuỷ lợi ngày 04/4/2001. - Nghị định số 143/2003/NĐ-CP ngày 28 tháng 11 năm 2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Khai thác và Bảo vệ các công trình Thuỷ lợi; Nghị định số 115/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm 2008 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 143/2003/NĐ-CP ngày 28 tháng 11 năm 2003. 11 - Nghị đinh số 172/2004 NĐ-CP ngày 29/9/2004 về tổ chức các cơ quan chuyên môn huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.