Chương 1: Những vấn đề lý luận về chi ngân sách nhà nƣớc cho lĩnh vực giáo dục, đào tạo Chương 2: Thực trạng công tác quản lý chi ngân sách nhà nƣớc cho Chƣơng trình mục tiêu quốc gia về giáo dục đào tạo Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nƣớc cho Chƣơng trình mục tiêu về giáo dục đào tạo 7 z CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC CHO LĨNH VỰC GIÁO DỤC, ĐÀO TẠO 1. Chi ngân sách nhà nƣớc cho lĩnh vực giáo dục, đào tạo 1. Khái quát về giáo dục, đào tạo ở Việt Nam 1. Khái niệm về giáo dục, đào tạo Hoạt động giáo dục tồn tại trong nhiều xã hội với nhiều thành phần tham gia, do đó quá trình giáo dục bao giờ cũng có quy mô, thành phần và chất lƣợng khác nhau tuỳ từng thời kỳ lịch sử và đƣợc một tập hợp ngƣời thực hiện gồm ngƣời dạy, ngƣời học, các gia đình, cộng đồng, sử dụng nhân lực, ngƣời quản lý quá trình giáo dục, ngƣời kinh doanh giáo dục.
Có những nhận thức khác nhau về hoạt động giáo dục, tuỳ thuộc vào những quan điểm tiếp cận và những mục tiêu đề cập của đối tƣợng tham gia vào quá trình giáo dục. Theo cách phổ biến nhất thì giáo dục đƣợc hiểu là quá trình hoạt động đặc trƣng của con ngƣời và xã hội loài ngƣời nhằm tác động một cách có hệ thống lên con ngƣời để đạt đến mục đích đã xác định. Ngày nay, mục tiêu giáo dục là: học để biết, học để làm, học để cùng chung sống và khẳng định mình với sáu bậc thang tri thức: hiểu, biết, vận dụng, phân tích, tổng hợp và đánh giá. Giáo dục đƣợc hiểu là quá trình nhằm hình thành, phát triển nhân cách con ngƣời, đƣợc tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa ngƣời dạy học và ngƣời học để ngƣời học lĩnh hội những tri thức và kinh nghiệm mà loài ngƣời đã tích lũy trong lịch sử.
Giáo dục tạo cho ngƣời học có kiến thức, kỹ năng và thái độ phù hợp với sự phát triển xã hội và môi trƣờng nghề nghiệp. Vai trò của giáo dục, đào tạo 8 z Giáo dục, đào tạo giúp cho con ngƣời phát triển, sử dụng và tăng cƣờng năng lực, có cuộc sống hữu ích hơn; có khả năng tham gia vào quá trình biến đổi của bản thân và của xã hội. Giáo dục, đào tạo giúp hình thành và phát triển những đặc tính nội tại của mỗi cá nhân trong mối liên hệ với môi trƣờng sống, từ đó tạo nên sự phát triển chung của nền KT - XH. Xã hội ngày càng phát triển thì càng có điều kiện tổ chức nền giáo dục tiến bộ đồng thời cũng là yêu cầu đòi hỏi nền giáo dục phát triển tƣơng ứng.
Giáo dục, đào tạo là trọng tâm của phát triển chung của mỗi quốc gia bên cạnh các chỉ số về thu nhập quốc dân, trình độ phát triển lực lƣợng sản xuất. Phát triển kinh tế - xã hội Phát triển Phát triển chất lƣợng giáo dục đào tạo nguồn nhân lực Sơ đồ 1.1: Mối tƣơng quan biện chứng giữa phát triển KT - XH với phát triển giáo dục, đào tạo và phát triển chất lƣợng nguồn nhân lực Do vậy, có sự tồn tại khách quan của mối quan hệ biện chứng đa chiều giữa phát triển KT - XH, phát triển chất lƣợng nguồn nhân lực và phát triển giáo dục, đào tạo. Cần phải khẳng định rằng, giáo dục, đào tạo là nhiệm vụ then chốt của mỗi quốc gia, các chính sách liên quan đến giáo dục là một bộ phận quan trọng của hệ thống các chính sách công nhằm tạo ra nguồn lực lao động có chất lƣợng cho xã hội. Mục tiêu của giáo dục, đào tạo là hình thành và bồi dƣỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân; đào tạo những 9 z ngƣời lao động có nghề, năng động và sáng tạo, có niềm tự hào dân tộc, có đạo đức, có ý chí vƣơn lên góp phần làm cho dân giàu, nƣớc mạnh.
Qua sơ đồ trên có thể nhận thấy vai trò của giáo dục, đào tạo có ý một ý nghĩa quan trọng nhƣ sau: Thứ nhất, giáo dục, đào tạo đóng góp vào đối với sự phát triển KT - XH: Hệ thống giáo dục phải đáp ứng đƣợc những nhu cầu trang bị tri thức, kỹ năng lao động nhằm đáp ứng những nhu cầu phát triển của nền sản xuất xã hội ngày càng ứng dụng những thành tựu mới của khoa học và cộng nghệ. Vì vậy, giáo dục đƣợc coi nhƣ một công cụ, một phƣơng cách nhằm phát triển sức sản xuất với mục đích tăng năng suất lao động xã hội, tăng trƣởng kinh tế. Thứ hai, giáo dục, đào tạo góp phần vào phát triển chất lƣợng nguồn nhân lực: Qua hệ thống giáo dục tại các cấp học sẽ nâng cao năng suất lao động của mỗi cá nhân thông qua tích luỹ kiến thức, kỹ năng, thái độ lao động. Đồng thời, nâng cao chất lƣợng, lực lƣợng lao động đƣợc thể hiện bằng việc tích luỹ vốn nhân lực, tăng thu nhập của ngƣời lao động.
Thứ ba, giáo dục, đào tạo góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nƣớc. Giáo dục, đào tạo phát triển sẽ tạo ra những thế hệ con ngƣời có đạo đức, có trình độ sẽ thúc đẩy khả năng tiếp thu thành tựu khoa học kỹ thuật để ứng dụng vào thực tiễn phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa diễn ra nhanh và đúng hƣớng. Để làm đƣợc điều này, cần phải có đội ngũ nguồn nhân lực đƣợc qua đào tạo bài bản, từ đạo đức đến những kỹ năng nghề nghiệp Thứ tư, giáo dục, đào tạo góp phần phát triển và nâng cao trình độ công nghệ của đất nƣớc; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Nguồn nhân lực đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển của công nghệ kỹ thuật, nguồn nhân lực đƣợc đào tạo, trang bị đầy đủ kiến thức cần thiết để tiếp cận với công nghệ hiện đại của thế giới và có điều chỉnh phù hợp với nền sản 10 z xuất trong nƣớc, tạo điều kiện nâng cao và phát triển nền công nghệ trong nƣớc.
Đồng thời, định hƣớng cho lớp trẻ có đƣợc những nhận thức đúng đắn, hiểu biết về những nét văn hóa mạng tính truyền thống của dân tộc, để tự bản thân có đƣợc nhận thức và hình thành những lối sống hiện đại nhƣng vẫn duy trì đƣợc nét văn hóa của đất nƣớc mình. Thứ năm, giáo dục, đào tạo góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp. Ngày nay, bằng việc xây dựng, phát triển và sở hữu các tài sản trí tuệ có chất lƣợng tốt, uy tín và vị trí của doanh nghiệp luôn đƣợc củng cố và mở rộng; khả năng cạnh tranh và thị phần của doanh nghiệp đƣợc nâng cao. Chất lƣợng nguồn nhân lực không chỉ là tài sản mà còn là nguồn vốn của doanh nghiệp.
Vốn trí tuệ tiềm ẩn trong mỗi con ngƣời, sau khi đƣợc đào tạo qua trƣờng lớp thì những kỹ năng kiến thức của con ngƣời sẽ càng ngày càng hoàn thiện hơn. Chi ngân sách Nhà nước cho lĩnh vực giáo dục, đào tạo 1. Khái quát về ngân sách nhà nước - Khái niệm về ngân sách nhà nước: NSNN là phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử. Sự hình thành và phát triển của NSNN luôn gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của kinh tế hàng hoá - tiền tệ trong các phƣơng thức sản xuất của các cộng đồng và Nhà nƣớc của từng cộng đồng.
Nói cách khác, sự ra đời của Nhà nƣớc, sự tồn tại của kinh tế hàng hoá - tiền tệ là những tiền đề cho sự phát sinh, tồn tại và phát triển của NSNN. Nhƣ vậy, NSNN luôn gắn liền với Nhà nƣớc, nó đƣợc dùng để chỉ các khoản thu nhập, các chi tiêu của Nhà nƣớc đƣợc thể chế hoá bằng pháp luật. Quốc hội thực hiện quyền lập pháp về NSNN, còn quyền hành pháp giao cho Chính phủ thực hiện. Các Nhà nƣớc khác nhau đều tạo lập và sử dụng NSNN.
Song, cho đến nay vẫn chƣa có sự thống nhất về khái niệm. Ở Việt Nam theo Điều 2 Luật NSNN năm 2002 đƣợc Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 2 thông qua: "NSNN là toàn bộ các 11 z khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong 1 năm để đảm bảo việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước" [25]. - Đặc điểm của ngân sách nhà nước: NSNN là bộ phận chủ yếu của hệ thống tài chính quốc gia. NSNN bao gồm những quan hệ tài chính nhất định trong tổng thể các quan hệ tài chính của quốc gia.
Các quan hệ tài chính thuộc NSNN có các đặc điểm sau: Thứ nhất, việc tạo lập và sử dụng quỹ NSNN luôn gắn liền với quyền lực của Nhà nƣớc và việc thực hiện các chức năng của Nhà nƣớc đƣợc Nhà nƣớc tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định. Thứ hai, NSNN luôn gắn chặt với sở hữu Nhà nƣớc, luôn chứa đựng lợi ích chung, lợi ích công cộng. Hoạt động thu - chi NSNN là sự thể hiện các mặt hoạt động KT - XH của Nhà nƣớc. Là việc xử lý các quan hệ lợi ích trong xã hội khi Nhà nƣớc tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia, lợi ích của Nhà nƣớc thể hiện cả trong phân phối thu nhập của các doanh nghiệp, của dân cƣ, phân phối GDP, GNP và cả trong phân bổ các nguồn lực tài chính cho các mục tiêu KT - XH, an ninh, quốc phòng của quốc gia.
Thứ ba, NSNN cũng có những đặc điểm nhƣ các quỹ tiền tệ khác. Nét riêng biệt của NSNN với tƣ cách là một quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nƣớc là nó đƣợc chia thành nhiều quỹ nhỏ có tác dụng riêng và chỉ sau đó NSNN mới đƣợc chi dùng cho những mục đích nhất định đã định trƣớc. Thứ tư, hoạt động thu, chi NSNN đƣợc thực hiện theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu. - Vai trò của ngân sách nhà nước: NSNN có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động KT - XH, an ninh quốc phòng và đối ngoại của đất nƣớc.
Tuy nhiên, vai trò của NSNN bao giờ cũng gắn liền với vai trò của Nhà nƣớc trong từng thời kỳ nhất định. Trong nền kinh tế thị trƣờng, vai trò của 12 z NSNN đƣợc thay đổi một cách căn bản, từ chỗ chỉ gắn với khu vực kinh tế quốc doanh và nhu cầu chi tiêu cho bộ máy của Nhà nƣớc trong cơ chế bao cấp sang bình diện mới với phạm vi rộng lớn, bao quát hơn.