phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo. Bố cục đề tài này còn có nộidung ch nh nhƣ s u: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động XNK. Chƣơng 2: Thực trạng của quản lý hoạt động XNK tại tỉnh Savannakhet. Chƣơng 3: Giải pháp quản lý hoạt động XNK tại tỉnh Savannakhet thời gian tới 6.
Tổng quan tài liệu nghiên cứu Các nghiên cứu về quản lýhoạt động XNK của các nền kinh tế có nhiều hƣng thƣờng các nghiên cứu có thể theo nhiều hƣớng tiếp cận khác nhau. Có những nghiên cứu bắt đầu từ tầm quan trọng của xuất nhập khẩu với nền kinh tế rồi đề xuất cần quản lý v điều tiết nhƣ thế nào. Tầm quan trọng của XNK với nền kinh tế đã đƣợc đề cập trong nhiều nghiên cứu kinh tế. Trong hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa dịch vụ là nòng cốt của hoạt động thƣơng mại quốc tế ó đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử và đóng góp ng c ng lớn vào sự phát triển chung của kinh tế thế giới Cơ sở 4 cho sự phát triển của xuất nhập khẩu là lý thuyết lợi thế tuyệt đối và lợi thế tƣơng đối (Ricardo D.
Cho dù sau này có nhiều lý thuyết khác nhƣ năng lực cạnh tranh, chuỗi giá trị,…nhƣng su cho cùng đều phát triển từ các lý thuyết ban đầu này. Theo các lý thuyết này mỗi quốc gia có thể lựa chọn sản xuất những hàng hóa dịch vụ mà mình có lợi thế tƣơng đối hay ít bất lợi thế nhất trong giỏ hàng hóa dịch vụ của mình để trao đổi mậu dịch. Việc trao đổi hàng hóa dịch vụ giữa các nƣớc dựa trên lợi thế tƣơng đối ha năng lực cạnh tranh cao hơn … sẽ giúp cho các nền kinh tế phân bổ khai thác sử dụng nguồn lực hợp lý, hiệu quả hơn thúc đẩy kinh tế phát triển (Mankiw (2000)). hƣ vậy hoạt động xuất nhập khẩu nhƣ công cụ giúp cho các nền kinh tế phân bổ, sử dụng nguồn lực của mình có tiết kiệm và hiệu quả hơn thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế.
Vai trò của hoạt động xuất nhập khẩu với phát triển còn thể hiện ở nhiều khía cạnh khác Trƣớc hết hãy xem xét vai trò của nó với với tăng cƣờng năng lực sản xuất của nền kinh tế. Thông qua nhập khẩu sẽ tạo ra khả năng nhập khẩu những máy móc thiết bị, công nghệ hiện đại những thứ chƣa có khả năng sản xuất ở các nƣớc chƣa sản xuất đƣợc. Hay từ hoạt động xuất khẩu làm mở rộng khả năng nhập khẩu, tạo ra nguồn tƣ liệu sản xuất để nhanh chóng t ch lũ vốn sản xuất thúc đẩ tăng trƣởng kinh tế (Nguyển Thị Ngọc Phùng (2005)). Từ hoạt động xuất khẩu sẽ đã tạo điều kiện cho doanh nhân trong tỉnh v nƣớc tiếp cận với những thị trƣờng mới, tận dụng lợi thế kinh tế theo quy mô, lợi thế tài nguyên thiên nhiên của tỉnh, thúc đẩy chuyên môn hóa.
Khi công nghệ sản xuất trong tỉnh còn thâm dụng t i ngu ên, lao động, thì buôn bán quốc tế sẽ cho phép tỉnh giải quyết đƣợc tình trạng dƣ thừa nông sản trong tỉnh Do đó, xuất khẩu sản phẩm dựa vào lợi thế của quốc gia là con đƣờng tạo ra thu nhập ngoại tệ để tạo ra khả năng nhập khẩu ( ùi Xu n ƣu và nhóm tác giả (2007)). 5 Bằng chứng thực tế cho thấy mở cửa nhiều hơn v tăng trƣởng nhanh hơn của hàng xuất khẩu thâm dụng lao động gắn liền với giảm nghèo hƣ vậy có mối quan hệ mạnh giữa tăng trƣởng kinh tế và giảm nghèo. Khi thu nhập bình qu n tăng lên, ph n phối thu nhập tƣơng đối t tha đổi: Thu nhập của những ngƣời rất nghèo cũng có xu hƣớng tăng, đôi khi nhanh hơn bình quân, đôi khi chậm hơn, nhƣng xu hƣớng chung vẫn là thu nhập của ngƣời nghèo tăng lên cùng với tăng trƣởng kinh tế. Một số nƣớc có tăng trƣởng nhanh nhất trong hàng xuất khẩu thâm dụng lao động cũng đạt đƣợc giảm nghèo nhanh nhất nhƣ Trung Quốc, Việt Nam và nhiều nƣớc khác.
Hoạt động xuất nhập khẩu còn tác động đến đói nghèo thông qua tác động lên giá tiêu dùng. Khi các hàng rào nhập khẩu đƣợc tháo gỡ, giá của nhiều hàng hoá mà các gia đình nghèo mua giảm xuống, l m tăng thu nhập thực của họ. Một cách tác động trực tiếp của chiến lƣợc hƣớng ngoại giúp giảm nghèo thông qua gia tăng việc l m cho lao động. Xuất nhập khẩu các hàng hoá thâm dụng lao động, bao gồm hàng công nghiệp chế tạo và nông sản, có tiềm năng tạo ra cơ hội việc l m đáng kể cho ngƣời lao động k năng thấp, chính xác là những ngƣời sống dƣới mức hay cận kề mức đói nghèo Đ l những gì đã xảy ra tại nhiều nền kinh tế hƣớng ngoại: Cơ hội việc làm mới giúp tăng thu nhập của ngƣời nghèo và giảm số ngƣời sống trong cảnh nghèo hƣng mở cửa cũng có thể dẫn đến mất việc làm trong một số khu vực, nhƣ khi các doanh nghiệp nội địa đƣợc bảo hộ hay hàng nông sản không thể cạnh tranh hữu hiệu với hàng nhập khẩu, v ngƣời lao động phổ thông trong những khu vực này bị mất việc hƣ chúng ta đã nhấn mạnh, trong khi Xuất nhập khẩu mang lại lợi ích cho tổng thể nền kinh tế, thì ngoại thƣơng không nhất thiết làm lợi cho tất cả mọi ngƣời Tác động chung phụ thuộc nhiều vào khả năng lƣu chu ển lao động: Để việc mở cửa giúp làm giảm nghèo, ngƣời lao động phổ thông cần có khả năng di chu ển từ những khu vực đƣợc bảo hộ (đang thu hẹp dần) sang 6 những khu vực hàng hoá ngoại thƣơng (đang mở rộng dần).
Các nghiên cứu quốc gia đang phát triển cho thấy rằng cải cách Xuất nhập khẩu gắn liền với gia tăng đói nghèo chỉ khi các bộ luật lao động không linh hoạt làm cản trở sự lƣu chu ển ngƣời lao động từ hoạt động này sang hoạt động khác (Bùi Quang Bình (2010)). 7 ƯƠ 1 Ơ N VỀ QU N LÝ HO NG XU T NH P KH U 1. KHÁI QUÁT VỀ QUẢN HOẠT Đ NG UẤT NHẬP KHẨU 1. Khái quát hoạt động XNK Có nhiều khái niệm khác nhau về ngoại thƣơngha X Song xét về đặc trƣng thì X đƣợc định nghĩa l việc mua, bán hàng hóa và dịch vụ qua biên giới quốc gia Cách đinh nghĩa n đƣợc sử dụng nhiều nhất khi nhìn vào các chức năng của XNK, tức vai trò của nó nhƣ chiếc cầu nối giữa cung, cầu hàng hóa và dịch vụ của thị trƣờng trong v ngo i nƣớc về số lƣợng, chất lƣợng và thời gian sản xuất.
Trong nhiều trƣờng hợp, trao đổi hàng hóa và dịch vụ đƣợc đi kèm việc trao đổi các yếu tố sản xuất (ví dụ: lao động và vốn), nhất l X trong điều kiện hội nhập khu vực và quốc tế.[12] Các nhà kinh tế học còn dùng định nghĩa X nhƣ l một công nghệ khác để sản xuất hàng hóa và dịch vụ (thậm chí cả các yếu tố sản xuất) hƣ vậ , X đƣợc hiểu nhƣ l một quá trình sản xuất gián tiếp.[12] Trong hoạt động ngoại thƣơng ha X : xuất khẩu là việc bán hàng hóa và dịch vụ cho nƣớc ngoài, và nhập khẩu là việc mua hàng hóa và dịch vụ của nƣớc ngoài. Mục tiêu chính của XNK là phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế trong nƣớc, không ngừng nâng cao mức sống của nhân dân. Xuất khẩu là để nhập khẩu; nhập khẩu là nguồn lợi chính từ ngoại thƣơng ha X [12] Ngoài ra, ngoại thƣơng ha X l một bộ phận quan trọng của kinh tế đối ngoại, có liên quan v tác động mạnh tới sự tăng trƣởng và phát triển của nền kinh tế thông qua việc phát huy tính kinh tế nhờ quy mô và chuyên môn hóa trong ph n công lao động quốc tế dựa trên lợi thế so sánh của mỗi quốc gia X thƣờng đƣợc nghiên cứu dƣới 3 góc độ[23]: 8 1/ Đứng trên quan điểm và lợi ích toàn cầu, tìm ra những quy luật, xu hƣớng và vấn đề mang tính chất chung của thế giới; 2/ Đứng trên lợi ch v quan điểm của mỗi quốc gia để xem xét hoạt động mậu dịch của quốc gia đó với phần còn lại của thế giới; 3/ Đứng trên quan điểm và lợi ích của doanh nghiệp, xác định phƣơng án kinh doanh quốc tế nhằm tối đa hóa lợi nhuận của mình. Theo nghĩa phổ biến, XNK là phạm trù kinh tế phản ánh quan hệ hàng - tiền giữa các quốc gia với nhau Theo quan điểm của Hội nghị Liên hợp quốc về Thƣơng mại và Phát triển, X đƣợc hiểu theo nghĩa rất rộng, bao gồm mọi hoạt động kinh doanh trên thị trƣờng quốc tế từ thƣơng mại hữu hình (liên quan đến hàng hóa, gồm h ng sơ chế có h m lƣợng công nghệ thấp và hàng tinh chế có h m lƣợng công nghệ cao), đến thƣơng mại vô hình (liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ nhƣ phát minh, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, quyền tác giả, thƣơng hiệu ) v thƣơng mại dịch vụ (nhƣ t i ch nh, ngân hàng, vận tải, bƣu ch nh viễn thông, dụ lịch, y tế, giáo dục.[23] Nội dung của ngoại thƣơng l các hoạt động X , trao đổi hàng hóa, dịch vụ, khoa học k thuật giữa nƣớc này với nƣớc khác, hoặc trong phạm vi một quốc gia (với các cá nhân hay doanh nghiệp nƣớc ngo i đang hoạt động trên quốc gia đó) Trong điều kiện hiện nay, các khái niệm “trong nƣớc”, “ngo i nƣớc” phải đƣợc qu ƣớc rất chặt chẽ.
Vì trong thực tiễn xuất hiện những hình thức ngoại thƣơng, nhƣ xuất khẩu tại chỗ - hàng hóa dịch vụ đƣợc sản xuất trong nƣớc và bán cho chủ thể nƣớc ngoài hoạt động trên lãnh thổ quốc gia đó; xuất - nhập khẩu quá cảnh - hàng hóa dịch vụ đƣợc sản xuất ở nƣớc ngoài nhập v o trong nƣớc để xuất khẩu đi nuốc thứ ba; các hoạt động tạm nhập tái xuất, v. Khái niệm về quản lý hoạt động XNK Quản lý hoạt động XNK nền kinh tế quốc dân (hoặc vắn tắt là quản lý 9 nh nƣớc về kinh tế) là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà nƣớc lên nền kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong v ngo i nƣớc, các cơ hội có thể có, để đạt đƣợc các mục tiêu phát triển kinh tế đất nƣớc đã đặt ra, trong điều kiện hội nhập và mở rộng giao lƣu quốc tế. Quản lý nh nƣớc về kinh tế là nội dung cốt lõi của quản lý các hoạt động xã hội liên quan đến kinh tế nói chung và nó phải gắn chặt với các hoạt động quản lý khác của xã hội.