CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CÔNG TÁC GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SƠ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Bất cứ một quốc gia nào trên thế giới cũng đều quan tâm đến việc giáo dục đạo đức, nhân cách và ý thức tuân thủ pháp luật cho công dân nước mình, trong đó GDPL trong nhà trường được quan tâm đặc biệt; GDPL trong nhà trường ở các nước đã được hoàn thiện về mặt lý luận và trong thực tiễn có nhiều kinh nghiệm tốt về nội dung, chương trình, hình thức và phương pháp giáo dục. Kết quả GDPL trong nhà trường đã góp phần quan trọng trong tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức pháp luật của người dân, thực hiện xã hội sống và làm việc theo pháp luật.
Vấn đề GDPL hiện nay, có thể nói không phải một quốc gia quan tâm mà nhiều quốc gia trên thế giới đều quan tâm. Bởi thông qua việc GDPL giúp HS hình thành đạo đức tốt, sống có nhân cách. Mục tiêu quan trọng của vấn đề là giáo dục cho HS có được kỹ năng sống, kỹ năng biết giải quyết vấn đề, có ý chí nổ lực vươn lên. Cho nên có nhiều công trình nghiên cứu khoa học lĩnh vực này như Khadijimogai, Panline Van Deth, Aymeric Beav Chene- pourquoiles jeunes sont-ilsviolents? Noteset éstudes documentaires, No 5125,31 décember 2000, Pp 133-142 (Nguồn: Viện Thông tin khoa học xã hội-số TN 2001-60).
Tác giả đã nêu lên được những hành vi bạo lực trong thanh niên hiện nay là trong những vấn đề bức xúc của nhiều nước, đặc biệt những nước phát triển. Tác giả tìm hiểu nguyên nhân bối cảnh xã hội và việc phát sinh những hành vi bạo lực. Điều đáng chú ý là tác giả không nói nhiều về tâm sinh lý lứa tuổi, về tác động của các phương tiện văn hóa không lành 7 mạnh hay những thiếu sót của giáo dục mà tập trung phân tích khía cạnh được coi là cơ bản, cơ chế ứng xử của xã hội đối với thanh niên, đặc biệt là thanh niên thuộc tầng lớp nghèo khổ. Theo tác giả, trong xã hội hiện nay thanh niên không bình đẳng trước những cơ hội để tiến thân, kể cả trường học và ở ngoài trường học.
Cơ chế xã hội đang vận hành theo kiểu: với những người này thì dễ dàng, với những người khác thì khó khăn. Có nhiều thanh niên muốn đi nhiều lối đi khác nhau nhưng đều đã bị chặn lại, thậm chí nhiều có những thanh niên rơi vào tầng lớp bị loại bỏ. Trước vấn đề đó có những hành vi bạo lực của nam thanh niên, đây là sự phản ứng có ý thức hoặc không có ý thức. Ở nhiều quốc gia hiện nay rất chú trọng đưa chương trình giáo dục công dân vào trường học bằng nhiều nội dung và hình thức phong phú, phù hợp với môi trường giáo dục của từng quốc gia.
Có rất nhiều công trình nghiên cứu của các nhà nhà khoa học về các vấn đề lý luận và thực tiễn công tác GDPL trong nhà trường và ngoài xã hội. GDPL góp phần hình thành, nâng cao hệ thống tri thức pháp luật cho HS, hình thành lòng tin pháp luật. GDPL là tăng cường khả năng tự bảo vệ của chủ thể trước những tác động bất thường của cuộc sống. GDPL giữ vị trí quan trọng trong đời sống xã hội, là cầu nối đưa pháp luật vào cuộc sống.
Sự hiểu biết sâu về pháp luật là nhân tố đặc biệt quan trọng, giúp cho chủ thể nhân cách tự ý thức được trách nhiệm pháp lý đối với hành vi của mình. Thông qua nghiên cứu chương trình giáo dục của các nước, đều xuất hiện tình trạng chung là toàn bộ các trường phổ thông coi trọng giáo dục tri thức văn hoá tổng thể và có mục tiêu quốc gia về đào tạo nhân cách, nhưng kết quả đạt được của giáo dục công dân trong nhà trường về vấn đề này lại ít rõ ràng. Tại nhiều nước đã rất chú trọng đưa chương trình GDCD vào trường học bằng nhiều nội dung và hình thức phong phú, phù hợp với môi trường giáo dục của từng quốc gia. 8 Đối với HS là thế hệ trẻ, là lực lượng xã hội to lớn, là nguồn nhân lực dồi dào cho sự phát triển của đất nước.
GDPL được triển khai sớm sẽ giúp cho họ sớm có những nhận thức cơ bản về pháp luật, nâng cao khả năng tư duy pháp luật, tránh được những hành động bột phát, gây những hậu quả nghiêm trọng cho xã hội. GDPL cho HS là biện pháp tích cực để phòng ngừa, ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật ở tuổi vị thành niên. GDPL phải được tiến hành thường xuyên, sau rộng là yếu tố quan trọng là góp phần hình thành và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ. Ở giai đoạn hiện nay, chúng ta cần nâng cao hơn nữa công tác quản lý GDPL cho HS nhằm bồi dưỡng và tạo điều kiện cho học sinh phát triển toàn diện, có ý thức trách nhiệm công dân, hiểu biết và chấp hành nghiêm Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước góp phần tạo dựng một môi trường trong trường học được lành mạnh là một nhiệm vụ cần thiết và cấp bách.
Nghiên cứu ở Việt Nam Đối với Việt Nam chúng ta GDPL nói chung và quản lý công tác GDPL cho HS nói riêng đã được quy định trong trong một số văn bản của Đảng và Nhà nước, nhà Giáo dục và Đào tạo như: Tổ chức thực hiện Chỉ thị 32/CT/TW ngày 09 tháng 12 năm 2003 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phổ biến, GDPL, nâng cao ý thức của cán bộ nhân dân [1]. Quốc Hội Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2012), Luật phổ biến, Giáo dục pháp luật [17]. Trong những năm qua, nhiều tác giả cũng đã nghiên cứu về vấn đề này như: Đặng Văn Khánh (2016), “Biện pháp quản lý công tác GDPL cho học sinh các trường phổ thông huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định”, Luận Văn Thạc sĩ, Trường Đại học Quy Nhơn [10]. 9 Tác giả Trần Thị Lệ Như (2017) “Quản lý công tác GDPL cho HS các trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Quy Nhơn [13].
Cùng với các nghiên cứu nói trên, có thể thấy rằng lý nói chung luận về GDPL nói chung và ở trường THCS nói riêng đã được nghiên cứu đầy đủ, làm cơ sở vững chắc cho những nghiên cứu về sau; đồng thời cũng có rất nhiều kinh nghiệm tốt trong nghiên cứu thực tiễn. Tuy nhiên, ở huyện Đắk Glong thì chưa có tác giả nào nghiên cứu chi tiết về nội dung này; do đó mà tác giả chọn đề tài này có ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn ở địa bàn nghiên cứu cụ thể. Các khái niệm cơ bản 1. Quản lý Từ khi xã hội loài người xuất hiện, một loạt các quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với con người và xã hội từ đó xảy ra mâu thuẫn và tranh giành quyền lực.
Điều này làm nảy sinh nhu cầu quản lý. Ngày nay nhiều người thừa nhận rằng quản lý trở thành một nhân tố của sự phát triển xã hội. Quản lý trở thành một hoạt động phổ biến, diễn ra trong mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ và liên quan đến mọi người. Khái niệm quản lý được nhiều tác giả tiếp cận với nhiều góc độ khác nhau, sau đây là một số quan niệm: Theo Từ điển Giáo dục học: “Quản lý hoạt động hay tác động có định hướng, có chủ định của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”.
Tiếp cận từ quan điểm hệ thống, tác giả Hà Thế Ngữ lại cho rằng “Quản lý dựa vào các quy luật khách quan vốn có của hệ thống để tác động đến hệ thống nhằm chuyển hệ thống đó sang một trạng thái mới” [5]. 10 Theo các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục tiêu của tổ chức” [4]. Mặc dù cách định nghĩa, khái niệm có khác nhau nhưng nhìn chung các tác giả trên đều xoay quanh các yếu tố của nội hàm của quản lý: Ai quản lý (chủ thể), quản lý cái gì (khách thể), quản lý bằng cách nào (phương tiện, công cụ), nhằm để làm gì (mục tiêu). Từ những quan điểm trên ta có thể hiểu: Quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý đến đối tượng và khách thể quản lý bằng việc vận dụng các chức năng quản lý, nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng và cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra.
Quản lý giáo dục Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ thống giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên tắc giáo dục của Đảng thực hiện được những tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học-giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất” [9]. Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật của giáo dục, của sự phát triển tâm lý và thể lực của trẻ em” [11].I Kônđacốp: “QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắc xích của hệ thống từ Bộ Giáo dục đến các trường học, nhằm mục 11 đích đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ em” [12]. Như vậy, chúng ta có thể hiểu rằng quan niệm về QLGD có thể có những cách diễn đạt khác nhau, trong các định nghĩa đều đề cập tới các yếu tố cơ bản: Chủ thể QLGD, khách thể QLGD, đối tượng QLGD và mục tiêu QLGD.