Chương 1: Cơ sở lý luận về quán lý hoạt đông giáo dục kỹ năng xã hội cho trẻ mẫu giáo Chương 2: Thực trạng quan lý hoạt động giáo dục kỹ năng xã hội cho trẻ 5 - 6 tuổi tại các trưởng mẫu giáo huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng xã hội cho trẻ 5 - 6 tudi tại các trường mẫu giáo huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam Chuong 1 CƠ SỞ LÝ LUAN VE QUAN LY HOAT DONG GIAO DUC KY NANG XÃ HỘI CHO TRẺ 5~ 6 TUÔI TẠI CÁC TRƯỜNG MẪU GIÁO 1. Tổng quan vấn để nghiên cứu 1. Các nghiên cứu nước ngoài Vào năm 2000 đã tổ chức diễn đân thế giới tại Senegal với chương trình hảnh động Dakar da dé ra 6 mục tiêu, trong đó tại Mục tiêu 3 có nêu: "Môi quốc gia phải đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình giáo dục kỳ năng sống phù hợp”, tại mục tiểu 6 yêu câu: “Khử đánh giá chất lượng giáo dục cẩn phải đánh giả kƑ năng ng của người học"[L7, tr. Cho nên, học kĩ năng trở thành quyền của người học và dl lượng giáo dục phải được thẻ hiện cả trong kỹ năng sống của người học.
Do đó, giáo dục kỹ năng cho người học trở thành nhiệm vụ quan trọng của giáo dục các nước, vì thể vấn đề giáo dục kỹ năng cho thể hệ trẻ nói chung, cho trẻ mâm non nói riêng, được đồng đảo các nước quan tâm. Tại Hội nghị thượng đỉnh về trẻ em do Liên Hiệp Quốc tô chức ở New York tháng 9-1990, cuốn sách “Để con em vững bước vào đời - Pour un bondeparrt dán la vie” tác giả đã làm rõ nguyên tắc đê cứu trẻ em sinh tồn, phải đi đôi với cố gắng làm sao cho cuộc sống ý nghĩa. Những người đang có gắng, bảo vệ, giáo dục và giúp các em trưởng thành cần lấy định đề nói trên lảm kim chỉ nam [17, tr7]. Hiện nay, mặc dù giáo dục kỹ năng sống trong đó cỏ KNXH cho thế hệ trẻ đã được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm và đưa vào chương trình dạy học cho trẻ dưới nhiều hình thức khác nhau, song nội dung giáo dục KNXH được triển khai ở các nước vừa thể hiện được cái chung, vừa mang những nét riêng của từng quốc gìa dân tộc.
Những kinh nghiệm GDKNXH trong nhà trường ở các nước cho thấy nó thúc đây mỗi quan hệ tích cực hơn giữa trẻ mằm non và giáo viên, đem đến hứng thú học tập cho trẻ do trẻ cảm thấy được tham gia vào những vẫn để liên quan đến cuộc sống cúa bản thân, cũng như đem đến bẫu không khí năng động hơn trong lớp học cũng như trong nhà trường như một số nước điện hình đã thành công trong việc GDKNXH cho trẻ trong nhà trưởng nhưng vẫn được Tô chức Y tế thế giới hoặc của LNESCO vẫn công nhận cách giáo dục KNXH ở các nước đem lại thể hê tương lai vững chắc cho. mỗi quốc gia Do Thái là một trong những dân tộc wu tủ trên thé giới, đã sản sinh ra những danh nhân vĩ đại cho nhân loại. Người Do Thái luôn coi trọng sự phát triển tiềm năng, bồi dưỡng khả năng thiên phủ cho trẻ, họ cho rằng trẻ tử 0-6 tuổi là thời kỳ đại não. phát triển nhanh nhất, trẻ tiếp thu kiến thức nhanh nhất, giáo dục sớm chính là giúp trẻ phát triển hết năng lực tiềm ẩn, đặt nền tảng vững chắc cho trẻ sau nả; Giáo dục mầm non Nhật Bản chủ trọng rèn luyện kỹ năng giao Tré em duoc giáo dục về đạo đức không chỉ từ gia đình, nhà trường mà còn bởi xã hội.
Trẻ mẫu 2 giáo đã được rên luyện thực bảnh đạo đức ngay trong các hoạt động hàng ngày và trở thành kỹ năng giao tiếp, các quy tắc ứng xử. Họ rất quan tâm đến môi trường nuôi dạy con cái: không bao giờ hình thành cho trẻ một thói quen xấu; tôn trọng trẻ em, luôn nói sự thật; chế độ ãn uống cho con phải cân bằng, không ép con ăn: bữa ăn phải được diễn ra trên ghế ăn va ban an. Giáo dục Hoa Kỳ rất coi trong tinh thần độc lập, tự lực của cá nhân, vỉ thể, ngay từ khi trẻ một tuôi rưỡi, họ đã bất đầu dạy cho trẻ các kỹ năng tự phục vụ bản thân. cho rằng, nấm bắt các kỹ năng tự phục vụ cỏ thẻ giúp trẻ tăng cường tính độc lập và âm gi tự thành công, nó không chỉ có lợi cho sự phát triển của trẻ mả còn giúp ích rất nhiều cho chỉnh những người lớn.
Bắt cử sự chăm sóc nảo từ phia người lớn cũng phải tạo cho trẻ những cơ hội để rèn luyện cho trẻ các kỹ năng nây. Đồng thời, họ cũng đỏi hỏi sự phổi hợp chặt chẽ của gia đỉnh để giúp các kỹ năng mà trẻ được dạy ở lớp được rèn luyện và thực hành ngay tại nhà. Theo tác giả Bủi Viết Phú - Lê Quang Sơn: Chỉnh sách giáo dục hiện nay của chính quyền Obama dành sự ưu tiên không nhỏ cho giáo dục và cần có những cái cách cấp bách, đã đưa “Đầu tư cho các chương trình hành động đối với trẻ ở tuổi mâm non” là vẫn đề ưu tiên hàng đầu và cần chú trọng đặc biệt đến kỹ năng của trẻ. “Theo chuyên gia tâm lý trường Đai học Yale - tiến sĩ Dorothy G.Singer chorằng các yếu tố môi trường có những tác động nhất định lên trẻ.
Việc trẻ tương tác với người lớn thông qua các trỏ chơi, cũng như việc chơi với các bạn cùng trang lứa là rất quan trọng trong việc phát triển các KNXH cho trẻ [32, tr. Theo học thuyết cỗ điền về trò chơi của K.Groos thì trò chơi là một hình thức hoạt động sông mả trong đó các cơ thể non nớt được hoản thiện. Trong quả trình vui chơi, những đưa trẻ lĩnh hội được. những kinh nghiệm lịch sử cúa loài người.
Nhóm tác gid Seving Olger, Abide Guingor Aytar (2014) với bài viết Nghiên cứu so sánh về các kỹ năng xã hội của trẻ5 tudi và hành vi của cha mẹ. Nghiên cứu nảy nhằm nghiên cứu mỗi quan hệ giữa các kỹ năng xã hội của trẻ 5-6 tuổi và hành vi của cha mẹ. Các lấy mẫu của nghiên cứu bao gồm 70 trẻ em ở độ tuổi 5-6 đang đi học tại các trường mẫu giáo, cha mẹ vả giáo viên của chúng ở Burdur. Dữ liêu được đánh giá cho 64 trẻ em.
Để trẻ có được nhân thức, môi trường đầu tiền vả quan trọng nhất chính là gia đỉnh. Với điểm nảy về quan điểm. gia đình l mỗi trường xã hội đầu tiên của trẻ em. Khi trẻ đạt được các kỹ năng xã hội, hảnh vi của cha và mẹ mã chúng hiển thị trong quả trình tương tắc với trẻ, có tầm quan trọng lớn [33] Năm 2019, trên tạp chí RerearchGate, nhóm tác giả do Maryam Malek viét chính đã viết bài Kỹ năng xã hội ở trẻ em ở nhà và ở trưởng mầm non.
Nghiên cứu này nhảm điều tra mức độ kỹ năng xã hội ở trẻ em mẫu giáo ở nhả vả ở trưởng mam non và để kiểm tra mối liên hệ giữa kỹ năng xã hội và nền tảng văn hóa và môi trường. Một nghiên cứu cất ngang sử dụng nhiều giai đoạn phương pháp chọn mẫu theo cụm. được thực hiện trên 546 trẻ đang học tại các trung tâm mắm non của một khu đô thị của Iran. Dữ liệu được thu thập thông qua bảng câu hỏi kỹ năng xã hội và nhân khẩu 3 học từ phụ huynh và giáo viên.
Phát hiện của chúng tôi cho thấy rằng các kỹ năng xã hội của trẻ em gái nhiều hơn kỳ năng xã hội của trế em trai ở nhả. Hơn nữa, phần lớn trẻ em có kỹ năng xã hôi ở mức độ trung bình từ cha mẹ và quan điểm của giáo viên. Có một thỏa thuận khiêm tốn giữa phụ huynh và giáo viên trong hầu hét các lĩnh vực kỹ năng xã hội. Hơn nữa, một mỗi liên hệ cỏ ý nghĩa thông kê đã được báo cáo giữa các lĩnh vực kỹ năng xã hội của trẻ em và thứ hạng sinh của đứa trẻ, tuổi của cha, công việc của cha, tuổi của giáo viên, trình độ học vẫn của giáo viên, giáo viên trải nghỉ: và lớp hoc mim non vé số lượng trẻ em và loại lớp học.
Theo đó, rủi ro gặp các vẫn để về kỹ năng xã hội được báo cáo là tương đối gia đình và đặc điểm của giáo viên vả trung tâm mắm non đề nâng cao kỹ năng xã ở trẻ em [22 Từ các nghiên cứu trên ta thấy được việc GDKNXH cho trẻ 5-6 tuổi là vô cùng cần thiết. GDKNXH cho trẻ thông qua các hoạt động trái nghiệm ở trường mẫu giáo là rat hop ly vi trẻ vừa học vừa chơi, chơi để hình thành các KNXH như nhường nhịn bạn cùng chơi, biết chờ đến lượt, biết chia sẻ với bạn. và ngược lại nhờ có KNXH mà trẻ tham gia chơi tốt vai chơi của mình hơn. Nghiên cứu trong nước “Trong xu thế quốc tế “hợp rác với nhau ", UNESCO chủ trương đầy mạnh phát triển giáo dục, đề cao “giáo dục trẻ em trước tuôi đến trường phải là một mục tiêu lớn trong chiến lược giáo dục”, vì vậy GDMN cảng ngày cảng trở thành vấn đề quan tâm lớn của rất nhiều quốc gia.
Đối với lịch sử giáo dục Việt Nam, KNXH và vấn đề GDKNXH cho con người biết đối nhân xử thế đã có mầm móng từ lâu như học ãn, học nói, học gói, học mở, hoc dăm ba chữ để làm người, học để đối nhân xử thể, học để ứng phó với thiên nhiên với cuộc sống thường ngày. Đỏ là những kỹ nãng đơn giản nhất mang tỉnh chất kinh nghiệm. phủ hợp với đời sống lúc bấy giờ. Từ thập kỷ 80 trở lại đây vấn đề rẻn luyện các KNXH cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi được quan tâm nhiều hơn.
Nghiên cứu các hoạt động nhằm phát triển KNXH của trẻ Š-6 tuổi đã nhận được sự quan tâm của một số nhả khoa học trong nước đề cập đến dưới góc độ nghiên cứu tâm lí học vả giáo dục học. Tac gia Nguyễn Ánh Tuyết trong cuốn “Giáo trình giáo dục hành vi văn hỏa cho trẻ em" (2006) [33.24] đã chỉ ra những hành vi văn hỏa cần giáo dục cho trẻ dưới 6 tuổi. Việc giáo dục những hảnh vi văn hỏa này có liên hé ma cho trẻ trong độ tuỗi mẫu giáo như là: Giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ đối với bản. thân; Giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ đối với thiên nhiên: Giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ đối với đề dùng.
đồ chơi; Giáo dục hảnh vi văn hóa cho trẻ đối với người xung.