Chương 1. Cơ sở lý luận của quản lý giáo dục kỹ năng TCSBT cho HS bán trú tại các trường PTDT bán trú THCS. Thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng TCSBT cho HS bán trú tại các trường PTDT bán trú THCS huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La. Biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng TCSBT cho HS bán trú tại các trường PTDT bán trú THCS huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.
5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG TỰ CHĂM SÓC BẢN THÂN CHO HỌC SINH BÁN TRÚ TẠI CÁC TRƢỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các công trình nghiên cứu về giáo dục kỹ năng tự chăm sóc bản thân của học sinh Đến nay, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về kỹ năng sống nói chung và kỹ năng TCSBT của HS, trong đó nổi bật là: Tại Úc, các kỹ năng hành nghề được xác định, gồm: 1. Kỹ năng giao tiếp; 2.
Kỹ năng làm việc đồng đội; 3. Kỹ năng giải quyết vấn đề; 4. Kỹ năng sáng tạo và khởi nghiệp; 5. Kỹ năng lập kế hoạch và tổ chức công việc; 6.
Kỹ năng quản lý bản thân; 7. Kỹ năng học tập; 8. Kỹ năng công nghệ. Trong đó, kỹ năng quản lý bản thân đã phản ánh những điểm tương đồng với kỹ năng TCSBT.
Trong cuốn sách “Hướng dẫn thực hiện giáo dục kỹ năng sống cho HS phổ thông” [31], tác giả Nguyễn Dục Quang đã chỉ rõ: “Bản chất của kỹ năng sống là kỹ năng tự quản lý bản thân và kỹ năng xã hội cần thiết để cá nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả” [31, tr. Nguyễn Đăng Cầu (2020), Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho HS THCS theo tiếp cận năng lực [12], cho rằng: “Hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho HS theo tiếp cận năng lực sẽ giúp cho HS có các năng lực chung: năng lực tự chủ, tự học; năng lực giao tiếp, hợp tác; năng lực giải quyết vấn đề, sáng tạo thông qua hoạt động giáo dục kỹ năng sống ở các trường THCS” [12]. Để thực hiện được hoạt động này, theo tác giả cần phải xác định được mục tiêu, nguyên tắc, nội dung, phương pháp, con đường và kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng chăm sóc bản thân của HS. Nguyễn Thanh Bình (2014), Giáo dục kỹ năng sống cho HS phổ thông [2] 6 đi sâu nghiên cứu kỹ năng sống, các phương pháp tiếp cận kỹ năng sống trong giáo dục ở nhà trường phổ thông và đề xuất các chủ đề giáo dục kỹ năng sống cho HS phổ thông.
Tuy không trực tiếp nói về kỹ năng TCSBT, song trong giáo trình này, tác giả nhiều lần khẳng định việc chăm sóc, bảo vệ bản thân là một trong những kỹ năng sống quan trọng của HS, nhất là kỹ năng ứng phó với căng thẳng [2]. Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa, Trần Văn Tính, Vũ Phương Liên Trong (2012), Phương pháp giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho HS trung học phổ thông [25] đã nhấn mạnh kỹ năng sống là công cụ, phương tiện để tiếp nhận và thể hiện giá trị sống. Nghiên cứu của các tác giả đã giúp cho GV trung học phổ thông định hướng tổ chức thực hiện giáo dục kỹ năng TCSBT trong nhà trường. Hoạt động giáo dục kỹ năng TCSBT có thể tổ chức thành các giờ học riêng biệt hoặc lồng ghép trong dạy học các môn học mà GV đảm nhận [25].
Ngoài ra, còn có các công trình khoa học bàn về vấn đề này, như: Nguyễn Thanh Bình (2008), Giáo trình giáo dục kỹ năng sống [1]; Vũ Thị Bích Hằng (2015), Giáo dục kỹ năng sống cho HS trung học qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp - vai trò của GV [20]; Phạm Thị Nga (2015), Thực trạng hoạt động giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh THCS [28]; Nguyễn Thị Oanh (2006), Kỹ năng sống cho tuổi vị thành niên [29]… từ các góc độ tiếp cận và đối tượng HS, các tác giả đã đưa ra những lập luận để khẳng định tầm quan trọng của kỹ năng sống, trong đó có kỹ năng TCSBT. Các công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục kỹ năng tự chăm sóc bản thân của học sinh Nguyễn Đăng Cầu (2020), Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho HS THCS theo tiếp cận năng lực [12] đã nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống nói chung, kỹ năng TCSBT nói riêng. Theo tác giả, nội dung quản lý, gồm việc lập kế hoạch; tổ chức thực hiện kế 7 hoạch; chỉ đạo thực hiện kế hoạch; kiểm tra, đánh giá việc thực hiện lập kế hoạch và quản lý các điều kiện bảo đảm cho hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho HS THCS theo tiếp cận năng lực. Đây là cơ sở quan trọng để tác giả đánh giá thực trạng và xác định các nguyên tắc đề xuất biện pháp cũng như xây dựng hệ thống các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng TCSBT của HS THCS theo tiếp cận năng lực.
Dương Minh Tùng (2013), Quản lý quá trình giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở trên địa bàn Quận 03 - Thành phố H Ch Minh [34], đã tiếp cận hoạt động giáo dục từ mục tiêu, nội dung, phương pháp, chủ thể, đối tượng giáo dục và kết quả công tác giáo dục. Đối với hoạt động quản lý quá trình giáo dục, tác giả đi sâu nghiên cứu mục tiêu, chủ thể, đối tượng, phương pháp quản lý quá trình giáo dục kỹ năng sống cho HS trung học cơ sở. Từ đó, đánh giá thực trạng, chỉ ra nguyên nhân và đề xuất biện pháp quản lý quá trình giáo dục kỹ năng sống cho HS THCS trên địa bàn Quận 03 - Thành phố Hồ Chí Minh. Trần Thị Thu Hiền (2017), Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho HS trường Trung học phổ thông Quế Lâm - tỉnh Phú Thọ [22] đã chỉ rõ nội dung giáo dục kỹ năng sống cho HS Trung học phổ thông, gồm: Mục tiêu, chương trình nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục và hoạt động kiểm tra, đánh giá giáo dục kỹ năng sống cho HS Trung học phổ thông.
Tác giả tiếp cận quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho HS Trung học phổ thông gắn với hoạt động xây dựng kế hoạch quản lý kỹ năng sống; tổ chức thực hiện giáo dục kỹ năng sống; chỉ đạo thực hiện giáo dục kỹ năng sống; kiểm tra, đánh giá việc thực hiện giáo dục kỹ năng sống. Huỳnh Thị Hà (2021), Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho HS các trường THCS huyện Gi ng Trôm, tỉnh ến Tre [18] đã chỉ rõ giáo dục kỹ năng sống cho HS THCS ở các vấn đề, như: mục tiêu giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục, hình thức, biện pháp giáo dục kỹ năng sống. Theo tác giả, hoạt 8 động quản lý được thực hiện với chức năng kế hoạch hóa, chức năng tổ chức thực hiện, chỉ đạo hoạt động, kiểm tra, đánh giá hoạt động. Ngoài ra, còn có các công trình khoa học, như: Hoàng Thúy Nga (2016), Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho HS tiểu học thành phố Hà Nội [27]; Phạm Duy Phương (2015), Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho HS các trường trung học phổ thông Quận 6 – Thành phố H Ch Minh [33]; Hoàng Nghĩa Kiên (2013), Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho HS các trường trung học phổ thông huyện Văn Giang, Hưng Yên [24]… Tuy được tiếp cận từ các góc độ, mục đích và nhiệm vụ khác nhau, song về cơ bản các công trình khoa học đều hướng đến khẳng định vai trò, tầm quan trọng của kỹ năng sống nói chung, kỹ năng TCSBT nói riêng, đánh giá thực trạng gắn với các chủ thể và khách thể quản lý cụ thể, qua đó đề xuất các biện pháp để nâng cao hiệu quả quản lý gắn với thực hiện mục tiêu, yêu cầu công tác giáo dục.
Từ việc tổng quan các công trình khoa học nêu trên cho thấy, đến nay có rất ít công trình khoa học độc lập bàn về kỹ năng TCSBT của HS cũng như việc giáo dục và quản lý hoạt động này, thường thì các nội dung của kỹ năng TCSBT được ẩn khuất trong các nghiên cứu về kỹ năng sống. Do đó, nghiên cứu đề tài “Quản lý giáo dục kỹ năng TCS T cho HS bán trú tại các trường PTDT bán trú THCS huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La” là cần thiết. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Khái niệm quản lý, quản lý giáo dục Quản lý là một trong những hoạt động đặc trưng của con người gắn với tổ chức để thực hiện việc điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định.
Từ điển Tiếng Việt, chỉ rõ: Quản lý là “tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [35, tr. Nguyễn Phương Huyền (2019) cho rằng: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch 9 hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [11, tr. Quản lý là hoạt động mà trong đó cần phải xác định rõ mục tiêu, chủ thể, đối tượng quản lý và thực hiện các chức năng kế hoạch, chức năng tổ chức, chức năng chỉ đạo, chức năng kiểm tra, đánh giá để giúp cho hệ thống ổn định và phát triển. Từ những nghiên cứu trên, luận văn quan niệm: Quản lý là hoạt động có định hướng, chủ mục đ ch của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục tiêu của tổ chức.
* Quản lý giáo dục Đến nay, có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý giáo dục, trong đó tiêu biểu như: Phạm Minh Hạc (2001), cho rằng: “Quản lý giáo dục là quản lý trường học, thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục; mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng HS” [19, tr. Trần Kiểm (2012) xem quản lý giáo dục ở cấp vĩ mô thì được hiểu là “hệ thống những tác động tự giác, có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến tập thể GV, công nhân viên, tập thể HS, cha mẹ HS và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường” [23, tr.