CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỌNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC VIÊN HỌC VĂN HÓA TẠI CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC NGHÈ NGHIỆP- GIÁO ĐỤC THƯỜNG XUYÊN 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu trên thế giới Trong mọi thời đại, mọi thê chế chính trị thì GDĐĐ cho thể hệ trẻ luôn là vấn đề được đặc biệt quan tâm. Thé ky XVII, Komemxky - Nhà giáo dục học vĩ đại Tiệp Khắc đã có nhiêu đóng góp cho công tác GDĐĐ qua tác phẩm “Khoa sư phạm vĩ đại”.
Komemxky đã chú trọng PH môi trường bên trong và bên ngoài đẻ GDĐĐ cho HS [21]. Học thuyết Mác - Lênin khăng định: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hôi có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sông công đông xã hội; nó phản ánh và chịu sự chỉ phối của tôn tại xã hội. Đạo đức mang tính lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc. Nhà trường trong mọi chế độ xã hội đều giáo dục đạo đức cho học viên.
[10] Nhà giáo dục tiêu biêu người Thụy Sỹ Petxtalôdi, dành cả cuộc đời của ông cho. sự nghiệp giáo dục, nhất là giáo dục cho trẻ em nghèo khỗ nên người. Petxtalôdi do chịu ảnh hưởng lớn của J. Ruxô về quan điểm giáo dục tự nhiên; từ đó ông cho rằng giáo viên không được đề nén sự phát triển tự nhiên của trẻ em, giáo viên phái quán "Giáo dục phải phủ hợp với tự nhiên” [28].
Ngoài ra, Ông còn cho g nhiệm vụ trung tâm của giáo dục là giáo dục đạo đức cho trẻ em trên cơ sở chung. nhất là tình yêu về con người. Tình yêu ấy bất nguồn từ gia đỉnh, trước hết là đối với cha mẹ, anh chị em rồi đến bạn bẻ và mọi người trong xã hội. Ông luôn đánh giá rất cao vai trò của GDĐĐ.Mác cho rằng: “Con người phát triển toàn diện sẽ là mục đích của nên giáo dục cộng sản chủ nghĩa và con người phát triển toàn diện là con người phát triển day đủ, tối đa năng lực sẵn có về tất cả mọi mặt đạo đức, trỉ tuệ, thẻ chất, tỉnh cảm, nhận thức, năng lực, óc thắm mỹ và có khả năng cảm thụ được tất cả những hiện tượng tự nhiên, xã hội xảy ra xung quanh"[9].
Nghiên cứu của Okonkwo B., về quản lý giáo dục đạo đức và học sinh kỹ luật trong các trường THCS công lập tại [MO đã cho thấy, hành vi trái đạo đức đã ảnh hưởng đến học sinh của trường trung học Imo State Public, giáo dục đạo đức có liên quan đến việc xây dựng nhân cách của học sinh trong hệ thông trường học, nhà trường. có các chiến lược có thể áp dụng đề rèn luyện đạo đức của học sinh trong trường công. của Imo State. Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, các trường Trung học và có những yếu tố gây ra những thách thức trong việc giáo dục đạo đức ở Bang Imo và nghiên cứu khuyến nghị, Ban Quản lý Giáo dục Trung học (SEMB) nên cung cấp đây 6 đủ nhân viên và tải liệu hưởng dẫn để giáo dục đạo đức, tổ chức các khóa đảo tạo tại chức để đảo tạo giáo viên giáo dục đạo đức cho hoc sinh [29].
Các nghiên cứu 6 trong nước Bác khăng định: “Đạo đức là nguồn nuối dường và phát triển con người, cũng thì mới có nước, không có nước thì sông sẽ cạn” [15]. Bắc cũng lưu ý: *Đạo đức cách mạng không phải trên trời rơi xuỗng ma do đấu tranh, rên luyện bén bỉ hằng ngày mà cỏ, cũng như ngọc cảng mài cảng sắng, vàng cảng luyện càng trong” [13]. Vi vay, trong các Trung tâm GDNN-GDTX hiện nay phải day cho học viên học văn hóa biết *Yêu tô quốc, yêu đồng bảo; học tập tốt, lao động tốt; đoàn kết tốt, kỷ luật tố; giữ gìn vệ sinh thật tố ; khiêm tốn, thật thả dũng cảm”. Nội dung “lẻ phát triển toàn diện con người thởi k) công nghiệp hỏa, hiện đại hỏa" trong cuôn sách của tác giả Phạm Minh Hạc [12] củng một số tác giả khác đã bản.
về nguyên nhân dẫn đến thực trang đạo đức học viên trong lứa tuổi phổ thông đang, học văn hóa tại các Trung tâm GDNN-GDTX hiện nay, đồng thời tác giả cũng nêu lên những mục tiêu và đưa ra những giải pháp giáo dục đạo đức cho con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hỏa, hiện đại hỏa đất nước. Trong cuốn sách “Đạo đức học"' (Nhà xuất bản giáo dục, 1998) của hai tác giả Phạm Khắc Chương, Hà Nhật Thăng đã bàn nhiều về các vấn đề giáo dục đạo đức như phạm trù giáo dục trong đạo đức gia đình, đạo đức trong tinh ban, tinh yêu.từ đó các tác giả đưa ra những nhận định và một số phương pháp giảng dạy và gi đạo đức cho học viên trong lửa tuổi phố thông. Các tác giả còn để cập đến các vấn đề giáo dục đạo đức nhằm giúp giáo viên có một cơ sở vững chắc để dạy học cho học. viên [6]- Tác giả Nguyễn Hữu Minh đã nghiên cứu đề tài "Thực trạng quản lý giáo dục.
học sinh chưa ngoan tại các trường THCS huyện Vĩnh Thạnh thành phổ Cần Thơ" năm 2009 [27]. Tác giá Tạ Thị Thu Hồng đã viết về *Thực trạng hoạt động quản lý giáo dục đạo đức học sinh một số trường trung cấp nghề tại Thành phố Hỗ Chỉ Minh” năm 2010 [17]. Năm 2013, Luận văn thạc sĩ “Biện pháp quản lý công tác GDĐĐ cho học sinh. THPT huyện Duyên Hải, tinh Trà Vinh”, của tác giả Nguyễn Văn Bồ [4] đã xuất phát từ khái niệm đạo đức, quản lý giáo dục đạo đức và thực trạng công tác GDĐĐ ở cơ sở GD đó là CRQL chưa thấy hết trách nhiệm của mình trong công tác quản lý GDĐĐ.
trong nhà trường, tác giả đưa ra 8 biện pháp quản lý GDĐĐ cho học sinh THPT trên địa bản huyện Duyên Hải, Trả Vĩnh. Nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung tâm giáo dục thường xuyên quận 12, thành phố Hỗ Chí Minh, Lê Đức Phong đã xác định cơ sở. lý luận về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung tâm giáo dục thường xuyên. Đồng thời, tác giả phân tích thực trạng giáo dục đạo đức và quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung tâm giáo dục thường xuyên Quận 12 -thành phố Hồ Chỉ Minh; từ đó xuất biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung tâm giáo dục thường xuyên Quận 12 -thành phố Hồ Chí Minh [31].
Nghiên cứu của Vũ Thị Loan đã chỉ ra rằng, “một bộ phận học sinh trung học. phỏ thông huyện Cờ Đỏ đã có biêu hiện thiếu văn hóa, xuống cấp về đạo đức, lối sông; giải thích hiện tượng này, các nhà quản lý giảo dục chỉ ra, nguyên nhân là do nhiều trường chưa thực hiện đầy đủ nội dung quản lý hoạt đông giáo dục đạo đức. Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng hoạt động giáo dục đạo đức và quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh, bài viết trình bày. pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng.
va hiệu quả hoạt đồng giáo dục đạo đức cho học sinh các trưởng tại địa phương” [19]. Nghiên cứu của Phạm Thị Vui đã tiến hảnh đảnh giá thực trạng giáo dục đạo. đức cho học sinh tại một số trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giảo dục thường xuyên. trên địa bản thành phố Hà Nội.
Theo đó, kết quả nghiên cứu cho thấy, “Nhiều nội dung, hình thức GDĐĐ cho HS chưa thực sự phủ hợp với đặ điểm của HS vả điều. kiện thực tế của trung tâm, của địa phương. Vai trò, trách nhiệm của các lực lượng công đông trong GDĐĐ cho HS còn hết sức mở nhạt" [35] Thừa kế các nội dung những tác giá đi trước đã nghiên cứu, đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học viên học văn hóa tại các Trung tâm GDNN- GDTX trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long” được tô chức triển khai nghiên cứu với hy vọng đây là sự kế thừa cần thiết các nghiên cứu đi trước và cùng góp phần thêm công sức và sự vận dụng hệ thống lý luận quản lý giáo dục nhằm nâng cao chất lượng GDĐĐ học viên học văn hóa tại các Trung tâm GDNN-GDTX trên địa bàn tinh Vinh Long. Quần lý Lý luận về quản lỷ ngày càng phong phú và phát triển.
Bởi vỉ, mọi hoạt động của tổ chức, xã hội đều cần tới quản lý, Ngày nay, quản lý trở thành một khoa học, một nghệ thuật và là một nghề trong xã hội hiện đại.Taylor (1856-1915): “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì cần làm và cái đó lâm thể nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất", Ông được coi là cha đẻ cúa thuyết quản lý khoa học đã nêu lên tư tưởng cốt lõi trong quản lý là: “Moi loại công việc dủ nhỏ nhất đều phải chuyên môn hóa và phải quản lý chặt ché”. Mác đã lột tả bản chất quản lý là nhằm thiết lập sự phối hợp giữa những công việc cá nhân và thực hiện những chức năng chung, nảy sinh tử sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, khác với sự vận động của các bộ phận riêng lẻ của nó. Các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc [6] cho rằng: “Hoạt động. quản lý là tác đông có định hướng, có chủ định cúa chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm cho tô chức vận hành và đạt mục đích của tổ chức”.
Như thể, các khái niệm quân lý trên tuy được trình bày khác nhau nhưng đều thống nhất quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có tổ chức, có kế hoạch. và hệ thống của chủ thê quản lý đến khách thể quản lý dựa trên những thông tin tỉnh trạng của đối tượng hình thảnh một môi trường phát huy một cách hiệu quá các. tiềm năng, các cơ hội của cả nhân và tô chức đề đạt được mục tiêu đã đề ra. Chức năng quản lý có thể là một dạng lao động chỉ huy, điều khiển, kết hợp của chủ thẻ quản lý tác động lên khách thẻ quản lý nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định.
Như vậy, quản lý có 4 chức năng: là, lâp kế hoạch là chức năng cơ bản đầu tiên của công tác quản lý nghĩa quyết định đến sự tổn tại vả phát triển của mỗi tô chức. Đỏ là một quá trình thiết lập có dự tính một cách khoa học về mục tiêu cần đạt, nội dung, phương pháp, phương. tiện, trỉnh tự, thời gian tiễn hảnh các hoạt động, chuẩn bị. huy động và sử dụng các nguồn lực đẻ triển khai các hoạt động một cách chủ động nhằm đạt mục tiêu đã đề ra.