Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ DI TÍCH VÀ KHÁI QUÁT VỀ DI TÍCH ĐỀN ĐẠI CẠI 1. Cơ sở lý luận về quản lý di tích lịch sử, văn hóa 1. Một số khái niệm 1. Di sản văn hóa Luật DSVH đã được kỳ họp thứ 9 Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa X, thông qua ngày 29/6/2001, khẳng định: “DSVH Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của DSVH nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta” [ 37, tr.
Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa có quy định về DSVH, DSVH phi vật thể, DSVH vật thể như sau: DSVH bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan; có giá trị lịch sử văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng; không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác. Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia [38, tr. Theo Công ước bảo vệ DSVH và tự nhiên của thế giới (Công ước di sản thế giới): Các di tích: các công trình kiến trúc, điêu khắc, hoặc hội họa hoành tráng, các yếu tố hay kết cấu có tính chất khảo cổ, các văn bản, các 8 hang động và các nhóm yếu tố có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học.
Các quần thể: các nhóm công trình xây dựng đứng một mình hoặc quần tụ có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học, do kiến trúc, sự thống nhất của chúng hoặc sự nhất thể hóa của chúng vào cảnh quan. Các thắng cảnh: các công trình của con người hoặc những công trình của con người kết hợp với các công trình của tự nhiên, cũng như các khu vực, kể cả các di chỉ khảo cổ học, có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân chủng học [20, tr. Từ những khái niệm trên ta có thể nhận định rằng DSVH Việt Nam chính là thành quả của hàng ngàn năm lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của toàn dân tộc qua các thế hệ. DSVH nói chung phản ánh tiến trình phát triển, thành tựu và sức mạnh của dân tộc đó; đồng thời là bằng chứng sống động nhất, hấp dẫn nhất cho sự vận động, biến chuyển, giao thoa và sự phát triển toàn diện của đời sống xã hội.
Như vậy, DSVH còn phản ánh những đặc trưng cơ bản nhất để phân biệt sự khác nhau tiêu biểu giữa các dân tộc, giữa các quốc gia, là tấm căn cước tin cậy nhất của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia trong những bối cảnh cụ thể về không gian và thời gian. Di tích lịch sử, văn hóa Di tích lịch sử văn hóa là một thành tố quan trọng cấu thành nên DSVH. Khái niệm DT LSVH được đề cập ở nhiều văn bản khác nhau và hàm nghĩa của nó cũng rất phong phú, đa dạng. Trong Điều 1, Hiến chương Quốc tế về Bảo tồn và Trùng tu Di tích và Di chỉ (1964) thì khái niệm di tích lịch sử văn hóa “Không chỉ là một công trình kiến trúc đơn chiếc mà cả khung cảnh đô thị hoặc nông thôn có chứng tích của một nền văn minh riêng, một phát triển có ý nghĩa hoặc một sự kiện 9 lịch sử.
Khái niệm này không chỉ áp dụng với những công trình nghệ thuật to lớn mà cả với những công trình khiêm tốn hơn vốn đã, cùng với thời gian, thâu nạp được một ý nghĩa văn hóa” [31, tr. Theo Đại từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý (chủ biên) “Di tích là các loại dấu vết của quá khứ, chủ yếu là nơi cư trú và mộ táng của người xưa được khoa học nghiên cứu. Theo nghĩa di tích văn hóa thì nó là di tích lịch sử văn hóa bất động” [49, tr. Theo giáo trình Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa của Trường Đại học Văn hoá Hà Nội: “Di tích lịch sử văn hóa là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử; do tập thể hoặc cá nhân con người hoạt động sáng tạo ra trong lịch sử để lại”.
Điều 4 Luật Di sản văn hóa quy định: “Di tích LSVH là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó, có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học” [38, tr. Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Di sản văn hóa: điều 11 nêu rõ: “Di tích là các di tích lịch sử (di tích lưu niệm sự kiện, di tích lưu niệm danh nhân), di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích khảo cổ, danh lam thắng cảnh” [18, tr. Từ các khái niệm trên đây cho thấy, Di tích LSVH là nơi lưu giữ một giá trị văn hóa khảo cổ, những địa điểm ghi dấu tích về lịch sử dân tộc, những nơi diễn ra những sự kiện chính trị quan trọng, có ý nghĩa đối với lịch sử dân tộc, lịch sử địa phương, những địa điểm ghi dấu chiến công chống xâm lược, chống áp bức, những nơi có giá trị lưu niệm về nhân vật lịch sử, anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa, khoa học, những công trình kiến trúc nghệ thuật có giá trị. Mỗi một DT LSVH đều mang một giá trị văn hoá, lịch sử nhất định, phản ánh một chặng đường lịch sử của cộng đồng dân cư, quá trình hình thành và phát triển xã hội qua mỗi thời đại.
Nghị quyết Trung ương 5, khoá VIII của Đảng cũng khẳng định: “Văn hoá Việt Nam là thành quả hàng nghìn 10 năm lao động, sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa văn hoá của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình” [3]. Khái niệm quản lý Theo quan niệm truyền thống, quản lý là quá trình tác động có ý thức của chủ thể vào một bộ máy (đối tượng quản lý) bằng cách vạch ra mục tiêu cho bộ máy, tìm kiếm các biện pháp tác động để bộ máy đạt tới mục tiêu đã xác định. Các Mác đã viết: “Bất cứ lao động xã hội hay lao động chung nào mà tiến hành trên quy mô khá lớn đều yêu cầu có sự chỉ đạo, điều hòa giữa các hoạt động cá nhân… Một nhạc sỹ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình nhưng một giàn nhạc thì phải có nhạc trưởng” [27, tr. Như vậy, quản lý là một hoạt động khách quan nảy sinh khi cần có nỗ lực của nhiều người nhằm đạt được mục tiêu chung.
Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức từ phạm vi nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp. Trình độ xã hội hóa càng cao, yêu cầu quản lý càng cao và vai trò của nó tăng lên. Hoạt động quản lý không phải chỉ diễn ra tại một thời điểm nhất định, mà nó diễn ra xuyên suốt cả một quá trình. Do đó, có thể nói rằng: “Quản lý là một quá trình: đi từ chỗ nắm được, nắm được cái hiện có - thấy được, thấy đúng cái cần có - Biết tìm mọi biện pháp khả thi và tối đa để đưa từ cái hiện có lên tới cái cần có” [27, tr.
Hoạt động quản lý có các thành phần như sau: chủ thể quản lý; đối tượng quản lý; mục tiêu quản lý. Chủ thể quản lý: chủ thể luôn là con người hoặc tổ chức, tạo ra các tác động quản lý tác động đến đối tượng quản lý bằng các công cụ với những phương pháp thích hợp theo những nguyên tắc nhất định. Đối tượng quản lý: tiếp nhận trực tiếp sự tác động của chủ thể quản lý. Tùy theo từng loại đối tượng khác nhau để chia thành các dạng quản lý khác nhau.
11 Mục tiêu quản lý: là cái đích cần phải đạt tới một thời điểm nhất định, do chủ thể quản lý định trước. Đây là căn cứ để chủ thể quản lý thực hiện các động tác quản lý cũng như lựa chọn các phương pháp quản lý thích hợp. Khái niệm quản lý di tích lịch sử văn hóa Quản lý văn hoá là một thuật ngữ mới. Trong khoa học, người ta có thể tiếp cận với văn hóa trên ba bình diện hoặc riêng rẽ hoặc tổng hợp: Văn hóa với tính cách một nền văn hóa; Văn hóa với tính cách những cái / thuộc tính văn hóa; Văn hóa với tính cách những hoạt động văn hóa.
Ở đây, trong khuôn khổ luận văn, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu về khái niệm quản lý hoạt động văn hóa. Quản lý nhà nước về văn hóa là sự quản lý của Nhà nước đối với toàn bộ hoạt động văn hóa của quốc gia bằng quyền lực của nhà nước thông qua Hiến pháp, pháp luật và cơ chế, chính sách nhằm đảm bảo sự phát triển của nền văn hóa dân tộc. Quản lý nhà nước về văn hóa mang tính đặc thù vì: Thứ nhất, hoạt động văn hóa là một hoạt động sáng tạo; các sản phẩm văn hóa mang giá trị lưu truyền từ đời này sang đời khác, làm phong phú cho cuộc sống con người. Về phương diện này, hoạt động đó đòi hỏi có “một khoảng trời tự do nhất định”, giúp cho sức tưởng tượng của chủ thể có “đất sống” để sáng tác.
Thứ hai, hoạt động văn hóa là hoạt động tư tưởng, có khả năng gây “hiệu ứng” (tốt hoặc xấu) trong xã hội. Thứ ba, hoạt động văn hóa là hoạt động kinh tế, một nguồn lực trực tiếp cho sự phát triển KT - XH. Bảo tồn và phát huy giá trị DSVH là một phần của công tác quản lý DSVH nói chung và quản lý DT LSVH nói riêng. Trường hợp quản lý DT LSVH có thể hiểu là tổ chức, điều khiển hoạt động của cơ quan quản lý di tích ở các cấp độ khác nhau, tùy theo quy định về chức năng, nhiệm vụ cụ thể.