Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học có ứng dụng công nghệ thông tin tại cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi số. Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học có ứng dụng công nghệ thông tin trường Cao đẳng nghề Vĩnh Phúc trong bối cảnh chuyển đổi số. Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học có ứng dụng công nghệ thông tin tại trường Cao đẳng nghề Vĩnh Phúc trong bối cảnh chuyển đổi số. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CÓ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TẠI CƠ SỞ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI SỐ 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Về hoạt động dạy học có ứng dụng công nghệ thông tin ở Việt Nam Những năm qua, đã có nhiều nhà nghiên cứu, nhà khoa học quan tâm đến vấn đề ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học. Với mục tiêu nâng cao chất lượng dạy học, nhiều hội nghị, hội thảo đã diễn ra; cùng với đó là các đề tài nghiên cứu khoa học nghiên cứu vấn đề quản lý ứng dụng CNTT trong giáo dục: Nhiều công trình nghiên cứu có giá trị có thể kể đến như: “Ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giáo dục hướng đến một nền giáo dục điện tử” của tác giả Quách Tuấn Ngọc (2009); “Công nghệ thông tin cho dạy học tích cực” của Jef Peeraer và Trần Nữ Mai Thy (2011); “E - Learning và ứng dụng trong dạy học” của Lê Huy Hoàng (2011); “Sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học” (tài liệu chương trình Partners in elearning của Microsoft). Có thể nói, những công trình nghiên cứu này đều nhấn mạnh tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT trong đổi mới phương pháp dạy học [12].
Bên cạnh những công trình nghiên cứu trên, còn phải kể đến nhiều hội thảo, bài báo khoa học, các khóa luận, luận văn nghiên cứu đề tài ứng dụng CNTT trong đổi mới PPDH, như: Hội thảo khoa học: “Nghiên cứu và triển khai E - Learning” (Viện CNTT, Đại học Quốc gia Hà Nội và Khoa CNTT, ĐH Bách Khoa Hà Nội phối hợp tổ chức 3/2005) đã đề ra hướng phát triển môi trường học tập của người học trong giai đoạn mới, phù hợp với xu thế phát triển của công nghệ thông tin. Tác giả Nguyễn Văn Hòa (2010), đã tìm ra sự tác động của các yếu tố về thâm niên công tác và thông tin đào tạo đến năng lực ứng dụng CNTT trong đổi mới PPDH đồng thời cũng đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học. 6 Tác giả Jef Peeraer và Peter Van Petegem (2010) trong một nghiên cứu đã khảo sát các yếu tố tác động tới ứng dụng CNTT trong ngành sư phạm Việt Nam. Nghiên cứu khẳng định vì Việt Nam là một nước đang ở giai đoạn đầu của việc ứng dụng CNTT trong dạy học nên còn hạn chế trong việc sử dụng các chương trình ứng dụng CNTT, chủ yếu là dùng thay cho phương pháp dạy học cũ.
Các yếu tố tác động gồm: cơ hội tiếp cận với máy tính, kĩ năng ICT, cường độ sử dụng máy tính,. Công trình nghiên cứu: “Ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục Việt Nam: Từ chính sách tới thực tế”; hai tác giả Jef Peeraer và Trần Nữ Mai Thy (2011) đã khẳng định: CNTT luôn được coi trọng trong công cuộc đổi mới giáo dục và được coi như là một môn học và là một công cụ quan trọng trong đổi mới PPDH. Nghiên cứu cũng cho thấy rằng, các nhà hoạch định chính sách đã rất quan tâm tới việc ứng dụng CNTT trong giáo dục và học tập điện tử (e - learning) và tiến hành xây dựng, sử dụng được bài giảng điện tử đó là kết quả mà việc ứng dụng CNTT trong giáo dục muốn hướng tới [8]. Đào Thái Lai và nhóm tác giả trong nghiên cứu: “Mức độ ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học của giảng viên các trường đại học” cho thấy mức độ thường xuyên sử dụng CNTT thông qua các kênh như: trình chiếu Power Point, khai thác thông tin trên mạng Internet vào dạy học, thi trực tuyến, dạy học qua mạng,.
Bài báo khoa học của tác giả Vũ Thanh Dung “Biện pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường phổ thông đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0” đã chỉ rõ quản trị trường học, mô hình tổ chức lớp học, vai trò của thầy và trò sẽ thay đổi bởi sự xuất hiện của nhiều khái niệm mới như “thiết bị ảo”, “thầy giáo ảo”, “phòng học ảo” [7]. Qua tổng quan khảo sát nghiên cứu vấn đề, chúng tôi nhận thấy rằng đã có khá nhiều bài viết, công trình nghiên cứu, buổi hội thảo về ứng dụng CNTT vào hoạt động dạy học, đổi mới PPDH. Và, đa số các nghiên cứu, thảo luận đều chỉ rõ vai trò, ý nghĩa quan trọng của việc ứng dụng CNTT vào hoạt động dạy học nói chung. Tuy vậy, chưa có một công trình nghiên cứu cụ thể về ứng dụng CNTT trong hoạt động đào tạo nghề.
Vì lẽ đó, có thể nói việc nghiên cứu và đề xuất các biện pháp ứng dụng CNTT trong hoạt động đào tạo nghề một cách có hiệu quả, đặc 7 biệt trong giai đoạn chuyển đổi số và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra nhanh chóng có ý nghĩa cấp thiết. Về quản lý hoạt động đào tạo nghề có ứng dụng công nghệ thông tin ở Việt Nam Nhìn chung, ở nhiều nước trên thế giới đã thực hiện việc nghiên cứu ứng dụng CNTT trong quá trình dạy học. Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hợp quốc của UNESSCO dự báo: Công nghệ thông tin sẽ làm thay đổi một cách toàn diện nền giáo dục, có hệ thống và mang tính hội nhập cao, nhất là trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 như hiện nay. Và, bên cạnh việc ứng dụng CNTT vào hoạt động dạy học thì CNTT cũng được ứng dụng trong các hoạt động quản lý.
Những năm qua, việc ứng dụng CNTT trong quản lý hoạt động dạy học đã nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, nhà khoa học trong nước. Có thể nhắc tới một số công trình nghiên cứu có giá trị lý luận và thực tiễn như: Công trình nghiên cứu: “Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thiết bị giáo dục, ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông tại các Trung tâm giáo dục thường xuyên và trung tâm học tập cộng đồng” (2006); và “Nghiên cứu tổ chức và quản lý việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong quản lý các trường Trung học cơ sở” - đề tài cấp Bộ của tác giả Ngô Quang Sơn đã đề cập đến các phương pháp quản lý sử dụng các thiết bị giáo dục, quản lý việc ứng dụng CNTT trong đổi mới PPDH ở nhiều cấp học khác nhau [8]. Hội thảo khoa học toàn quốc về CNTT & truyền thông mang tên: “Các giải pháp công nghệ và quản lý trong ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào đổi mới phương pháp dạy học” (Trường ĐHSP Hà Nội phối hợp với Dự án giáo dục Đại học, 2006) đã đề cập đến các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục bằng việc ứng dụng các thành tựu của CNTT và truyền thông vào quá trình dạy học [8]. Tác giả Phạm Doãn Hưng trong luận văn: “Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong đổi mới phương pháp dạy học ở trường Hữu Nghị 80, Thành phố Hà Nội” (2017) đã khẳng định được vai trò quan trọng của CNTT trong đổi mới hoạt động dạy học; đồng thời, đã đề xuất một số biện pháp ứng dụng có hiệu quả CNTT vào đổi mới PPDH tại một cơ sở giáo dục cùng tên [9].
Tác giả Hoàng Hà trong luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục (ĐHSP Hà Nội 8 2) mang tên: “Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong đổi mới phương pháp dạy học ở trường Cao đẳng Việt Xô số 1 trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4. Như vậy, qua tổng quan nghiên cứu vấn đề, chúng tôi nhận thấy: các đề tài nghiên cứu về ứng dụng CNTT, các hội thảo khoa học, đều khẳng định vai trò, ý nghĩa quan trọng của việc ứng dụng CNTT vào dạy học, đổi mới PPDH và các biện pháp quản lý ứng dụng công nghệ thông tin. Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề quản lý hoạt động dạy học có ứng dụng CNTT tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi số. Chính vì vậy, việc nghiên cứu và đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy học có ứng dụng CNTT tại trường Cao đẳng nghề Vĩnh Phúc trong bối cảnh chuyển đổi số có ý nghĩa quan trọng, cấp thiết.
Hoạt động dạy học có ứng dụng công nghệ thông tin tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và chuyển đổi số trong giáo dục nghề nghiệp 1. Khái niệm “Công nghệ thông tin”, “Ứng dụng công nghệ thông tin”; “dạy học có ứng dụng công nghệ thông tin” 1. Khái niệm Công nghệ thông tin Năm 1958, khái niệm công nghệ thông tin lần đầu tiên xuất hiện trên tạp chí Harvard Business Review, do hai tác giả Leavitt và Whisler đề cập [30]. Những ngành khoa học và công nghệ liên quan đến thông tin và quá trình xử lý thông tin đều có thể gọi chung với khái niệm CNTT.
Có thể hiểu CNTT chính là một hệ thống các phương pháp khoa học và công nghệ, với các phương tiện công cụ chủ yếu như máy tính, mạng truyền thông, hệ thống kho dữ liệu, lưu trữ và truyền dẫn, khai thác và sử dụng một cách hiệu quả các thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người. Công nghệ thông tin được phát triển trên các nền tảng của các công nghệ Tin học - Điện tử - Viễn thông và Tự động hóa. Công nghệ thông tin là lĩnh vực công nghệ rộng lớn nhưng có nhiều chuyên ngành hẹp với các phân môn như khoa học máy tính, kĩ thuật máy tính, công nghệ phần mềm, mạng máy tính,. 9 Công nghệ thông tin (tiếng Anh: information technology - IT), viết tắt là CNTT, là một nhánh ngành kỹ thuật sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền tải và thu thập thông tin [28].
Ở Việt Nam, khái niệm công nghệ thông tin được hiểu và định nghĩa trong Nghị quyết số 49/CP ngày 4 tháng 8 năm 1993 của Chính phủ.