Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý dạy học môn Ngữ ở các trường Trung học cơ sở theo hướng phát triển năng lực học sinh. Chương 2: Thực trạng quản lý dạy học môn Ngữ văn ở các trường THCS huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc theo hướng phát triển năng lực học sinh. Chương 3: Biện pháp quản lý dạy học môn Ngữ văn ở các trường THCS huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc theo hướng phát triển năng lực học sinh. 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN Ở CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO HƢỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về dạy học phát triển năng lực học sinh Hoạt động dạy học luôn được coi là một vấn đề quan trọng và được ưu tiên hàng đầu trong mỗi quốc gia. Trong những năm gần đây, phát triển năng lực cho học sinh thông qua hoạt động dạy học đã trở thành một xu hướng toàn cầu. Trước kỷ nguyên công nghệ 4.0, các phương pháp dạy học truyền thống dựa trên việc truyền đạt kiến thức đã bộc lộ những hạn chế.
Vì vậy, trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, đã có rất nhiều nghiên cứu về hoạt động dạy học phát triển năng lực cho học sinh, nhằm tìm hiểu và ứng dụng các phương pháp và công nghệ mới trong quá trình giảng dạy và học tập. Nhà giáo người Mỹ John Dewey (1859-1952) là một trong những nhà giáo có nhiều nghiên cứu nổi tiếng trong lĩnh vực giáo dục. Theo quan điểm của ông, giáo dục và dạy học là quá trình hướng dẫn và phát triển tiềm năng, năng lực tự nhiên của học sinh. Quá trình dạy học nên tập trung vào người học, đảm bảo rằng họ học thông qua việc phân tích và áp dụng kinh nghiệm của mình.
Dewey cũng nhấn mạnh giá trị của trải nghiệm học tập, đòi hỏi rằng nó phải là những trải nghiệm thực tế, sống động và tôn trọng những giá trị nhân bản của con người [dẫn theo 22, tr. Tác phẩm “Phép giáo huấn vĩ đại”(1632) của nhà giáo J.Comenxki (1592- 1670) là một tác phẩm đáng chú ý mang trong mình những tư tưởng giáo dục vượt thời đại về lý luận dạy học và giáo dục. Trong tác phẩm này, J. Comenius đã tóm tắt kinh nghiệm dạy học của con người bằng cách xây dựng một hệ thống các nguyên tắc chỉ đạo công tác dạy học.
Các nguyên tắc này bao gồm việc khuyến khích tính tích cực của học sinh trong quá trình học, đảm bảo sự phù hợp với khả năng của học sinh, đảm bảo tính trực quan và bền vững của kiến thức, và đảm bảo 7 tính hệ thống và liên tục trong quá trình dạy học. Quan điểm của J. Comenius vẫn có giá trị đến ngày nay, tiếp tục đóng góp cho lĩnh vực giáo dục [dẫn theo 27, tr. Trong suốt cuộc đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt vai trò của giáo dục lên hàng đầu.
Ngay cả trong thời kỳ đất nước đang phải đối mặt với nghèo đói và xâm lược từ giặc ngoại xâm, Người đã nhấn mạnh nhiệm vụ của Đảng và toàn dân là diệt trừ đói, diệt trừ dốt và diệt trừ giặc ngoại xâm. Trong tư tưởng về giáo dục của Hồ Chí Minh, Người khẳng định rằng giáo dục phải liên kết với mục tiêu và nhiệm vụ của đất nước trong từng giai đoạn lịch sử. Để thực hiện tư tưởng của Bác về giáo dục, các nhà giáo và nhà khoa học đã tiến hành nhiều nghiên cứu về hoạt động dạy học nhằm phát triển năng lực cho học sinh, và đó là một minh chứng cụ thể cho sự thực hiện của tư tưởng này. Tác phẩm "Đổi mới giáo dục và tổ chức các hoạt động dạy học để phát triển năng lực, phẩm chất người học" của hai tác giả Trịnh Văn Biểu và Trần Thị Ngọc Hà đã nhấn mạnh sự khác biệt giữa hai hướng tiếp cận trong dạy học: tiếp cận nội dung và tiếp cận phát triển năng lực và phẩm chất người học.
Trong tác phẩm, hai tác giả đã xác định sự khác biệt này trong 6 phương diện chính bao gồm mục đích, nội dung, phương pháp, tổ chức, kiểm tra đánh giá và sản phẩm [5]. Tác giả Nguyễn Trọng Hoàn cho rằng “Năng lực đạt được không chỉ thể hiện qua các hoạt động dạy học mà còn qua các hoạt động học tập”. Giáo viên phải chuyển đổi từ việc lấy giáo viên là trung tâm sang lấy học sinh là trung tâm, tập trung vào các kỹ năng hòa nhập, khả năng giải quyết vấn đề, và tiếp thu kiến thức. Tác giả khẳng định: người thầy chỉ có thể giúp đỡ để người học tự khám phá.
Người dạy hướng dẫn người học phát triển các năng lực qua hoạt động dạy học: dạy nội dung môn học để học sinh hình thành, phát triển năng lực chuyên môn, dạy phương pháp - chiến lược học tập để học sinh có năng lực phương pháp, dạy giao tiếp – xã hội để học sinh có năng lực xã hội, hướng dẫn học sinh tự trải nghiệm - đánh giá để hình thành năng lực cá nhân.16] Trong bài viết "Đổi mới căn bản, toàn diện chương trình Ngữ văn" trên Tạp chí Khoa học giáo dục, số 103, tác giả đã bàn về vấn đề đổi mới toàn diện trong dạy học môn Ngữ văn. Tác giả đã phân tích tổng quát những vấn đề trong chương trình 8 GDPT 2006 và chương trình GDPT 2018. Cụ thể, chương trình hiện tại tiếp cận theo hướng nội dung trong khi chương trình mới nhắm đến cách tiếp cận dựa trên năng lực. Chương trình Ngữ văn hiện tại đề ra ba mục tiêu và được chia thành ba cấp độ.
Tuy nhiên, chương trình hiện tại chủ yếu là một danh sách nội dung cần dạy (dạy gì?), trong khi sách giáo khoa hiện tại có hai bộ theo hai chương trình cơ bản và nâng cao, nhưng tính phân hoá quá thấp dẫn đến thực tế chỉ có một bộ sách. Trong tác phẩm "Đánh giá năng lực học sinh trong dạy học môn Ngữ văn ở Trung học cơ sở - nhìn từ mục tiêu dạy học", tác giả Trần Thị Kim Dung đã chỉ ra rằng để tiếp cận theo hướng phát triển năng lực của người học, chương trình giáo dục phổ thông cần bắt đầu từ các năng lực thiết yếu trong cuộc sống hiện tại và tương lai của từng học sinh. Khi chương trình và sách giáo khoa đã xác định theo hướng tiếp cận năng lực, việc đánh giá kết quả của học sinh cũng cần phải tuân thủ định hướng này, điều này đảm bảo sự tương thích và nhất quán giữa các yếu tố trong quá trình dạy và học [7, tr. Từ những nghiên cứu trên cho thấy, nhiều chuyên gia sư phạm đã đưa ra quan điểm đổi mới giáo dục, đổi mới dạy học theo định hướng phát huy năng lực người học.
Những nghiên cứu về quản lý dạy học môn Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực học sinh Trong tác phẩm "Thực trạng quản lý hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường THCS tại thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu", tác giả Nguyễn Thị Tịnh đã phân tích thực trạng quản lý hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn tại các trường THCS và từ đó đề xuất những biện pháp quản lý khả thi nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn trên toàn địa bàn tỉnh [25, tr. Theo tác giả Hoàng Thị Kim Hoạt, quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn gồm hệ thống các hoạt động quản lý đối với giáo viên, đối với học sinh, và với cơ sở vật chất nhà trường, như: tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, phẩm chất đạo đức, lối sống cho đội ngũ giáo viên; quản lý kế hoạch giảng dạy, thực hiện chương trình giảng dạy của giáo viên; quản lý nhiệm vụ soạn bài và chuẩn bị bài lên lớp của giáo viên; quản lý việc cải tiến nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học 9 và đánh giá giờ dạy; cải tiến công tác kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh; tăng cường giáo dục ý thức, động cơ thái độ học tập môn Ngữ văn cho học sinh; bồi dưỡng phương pháp học tập tích cực sáng tạo, phối kết hợp với các lực lượng giáo dục khác, … Các biện pháp rất đa dạng và đã bao quát hầu hết các hoạt động giáo dục cơ bản của nhà trường [15]. Với đề tài nghiên cứu “Quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở các trường THCS Thành phố Uông Bí – Quảng Ninh” của tác giả Phan Thị Bích Huệ. Tác giả cho rằng quản lý dạy học môn Ngữ văn tập trung vào các hoạt động sau: tăng cường quản lý việc thực hiện nội dung chương trình đáp ứng mục tiêu môn học và nhiệm vụ từng năm học, thường xuyên chỉ đạo việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học đối với giáo viên và bồi dưỡng phương pháp học tập cho học sinh, quản lý sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất, phương tiện dạy học và tăng cường ứng dụng phương tiện dạy học hiện đại vào dạy học Ngữ văn, …[17].
Trong luận văn "Quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn tại trường THCS Võ Thị Sáu, quận Lê Chân, Hải Phòng theo tiếp cận phát triển năng lực người học", tác giả Phạm Thị Mai Loan đã nhận định rằng quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn có sự quan trọng đặc biệt trong việc nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo tiếp cận phát triển năng lực người học. Tác giả Phạm Thị Thu Hà (2015) đã nghiên cứu đề tài “Quản lý đổi mới phương pháp dạy học môn ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực người học tại các trường THCS huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh” [10]. Kết quả nghiên cứu đã cung cấp các giải pháp: Nâng cao nhận thức cho CBQL, GV về sự cấp thiết phải đổi mới PPDH môn ngữ văn theo hướng phát triển năng lực người học; xây dựng kế hoạch quản lý GV; tổ chức bồi dưỡng GV; quản lý, khai thác sử dụng CSVC, thiết bị dạy học; động viên, khen thưởng, tạo điều kiện cho GV đổi mới; tăng cường kiểm tra, đánh giá đổi mới PPDH môn ngữ văn theo hướng phát triển năng lực người học.