Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về quản lý đầu tư phát triển khoa học và công nghệ. Phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng công tác quản lý đầu tư phát triển khoa học và công nghệ tỉnh Nghệ An giai đoạn 2010 - 2015. Chương 4: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác Quản lý đầu tư phát triển khoa học và công nghệ tỉnh Nghệ An giai đoạn 2015-2020.
3 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ ĐẦU TƢ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về đề tài Trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu về vốn đầu tƣ và vốn đầu tƣ khoa học công nghệ của các nhà khoa học, các tổ chức. Coleman (1988) khẳng định vốn đầu tƣ là ―sản phẩm tái sinh‖ của các hoạt động khác, thông qua mối quan hệ giữa các cá nhân, tổ chức với nhau, ngƣời ta thiết lập và duy trì những quan hệ nhƣ thế để tìm kiếm lợi ích. Theo quan điểm của Fukuyama (2002), cá nhân có thể tạo ra và sử dụng vốn đầu tƣ để phục vụ mục đích của mình.
Trong khi đó Putnam (2000) cho biết vốn đầu tƣ đƣợc dùng để tìm kiếm sự thịnh vƣợng về kinh tế. Lin (1999) lại nói rõ vốn đầu tƣ phản ánh khả năng đầu tƣ và lợi ích thu về. Cho đến nay, tầm quan trọng của vốn đầu tƣ khoa học công nghệ đã đƣợc đề cập trong các nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau trên thế giới. Bài viết của tác giả Fukuyama (2002), ―Vốn đầu tƣ và phát triển: Chƣơng trình nghị sự sắp tới‖, nhấn mạnh đến tính tích cực của vốn đầu tƣ.
Bài viết chỉ ra cách mà vốn đầu tƣ có thể đóng góp vào phát triển kinh tế và khoa học công nghệ. Bài viết cũng giải thích rằng vốn đầu tƣ giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển của nhiều doanh nghiệp. Bài viết của tác giả Woolcock (2001), ―Vị trí của vốn đầu tƣ trong việc lý giải những kết quả kinh tế và xã hội‖, nhấn mạnh rằng vốn đầu tƣ có vai trò quan trọng trong việc huy động các nguồn lực nhằm thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế. Ở Việt Nam, quản lý vốn đầu tƣ KH & CN từ ngân sách 4 z Nhà nƣớc đã đƣợc nghiên cứu nhiều ở dạng phƣơng pháp luận chung nhất để dạy ở các trƣờng đại học, các học viện hoặc đƣợc nghiên cứu ở tầm quốc gia do Bộ Khoa học và Công nghệ, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trƣờng của Quốc hội thực hiện dƣới dạng đề tài cấp Nhà nƣớc.
Trong những năm gần đây, Viện nghiên cứu chiến lƣợc và chính sách KH&CN đã có những nghiên cứu bàn luận về nguồn vốn đầu tƣ cho phát triển KH&CN trong điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần. Trong đó có đề tài cấp Bộ nghiên cứu về ―Chia sẻ kinh phỉ giữa nhà nƣớc và cơ sở cho dự án triển khai và đổi mới công nghệ‖ do Nguyễn Thanh Hà làm chủ nhiệm, nghiên cứu tình hình và cơ chế hoạt động của hệ thống các quỹ hỗ trợ tài chính cho hoạt động KH&CN ở Việt Nam. Hay những đề tài cấp cơ sở nhƣ: ―Nâng cao hiệu quả một sổ chỉnh sách thuế và tín dụng khuyến khích các doanh nghiệp đổi mới công nghề'’ do Hoàng Văn Tuyên làm chủ nhiệm, nghiên cứu về chính sách thuế và tín dụng cùng một số nỗ lực của Nhà nƣớc tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nghiên cứu và ứng dụng KH&CN vào sản xuất kinh doanh, trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp chính sách về tài chính đối với doanh nghiệp; đề tài về; ―Nghiên cứu xây dựng các hình thức hợp tác và cơ chế khuyến khích hợp tác viện — doanh nghiệp phát triển sản phẩm và công nghệ của doanh nghiệp‖ do Hoàng Thanh Hƣơng làm chủ nhiệm nhằm phân tích mối quan hệ giữa hoạt động KH&CN và hoạt động sản xuất nhằm tìm ra và kiến nghị các hình thức hợp tác và cơ chế khuyến khích hợp tác cho mối quan hệ này. Đã có một số bài viết nhƣ: ―Thị trƣờng khoa học và công nghệ; đặc trƣng của kỉnh tể tri thức‖ của GS Vũ Đình Cự bàn về nhiệm vụ do Đại hội IX của Đảng đặt ra là phải phát 5 z triển thị trƣờng KH&CN ở Việt Nam nhƣng thực tế thị trƣờng đó nhƣ thế nào, đã làm đƣợc gì và kiến nghị giải pháp thúc đẩy phát triển; bài: ―Phát triển thị trƣờng khoa học và công nghệ Việt Nam‖ của TS Hồ Ngọc Luật nhằm phân tích các yếu tố cung, cầu, môi trƣờng pháp lý, xã hội cho thị trƣờng này hoạt động trôi chảy, đƣa ra đánh giá bƣớc đầu về sự phát triển thị trƣờng này và kiến nghị các giải pháp thúc đẩy phát triển.
Các nghiên cứu này đã có những bàn luận về nguồn vốn cho phát triển KH&CN trong điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần Một số bài viết về đầu tƣ phát triển KH&CN, phân tích thực trạng của hoạt động đầu tƣ này và kiến nghị giải pháp thúc đẩy nhƣ: ―Vốn đầu tƣ cho hoạt động khoa học và công nghệ vẫn chƣa có lời giải hữu hiệu‖ của Hoàng Vãn Dụ trên diễn đàn của Bộ Khoa học và Công nghệ, số 2/2003; ―Quy chế tài chỉnh không phù hợp với nghiên cứu khoa học và công nghệ‖ của Thu Hƣơng, số 1/2004; ―Đầu tƣ cho khoa học công nghệ nông nghiệp‖ của Kiều Linh trên báo Nhân dân điện tử. Các công trình nêu trên, ở mức độ khác nhau, đã cung cấp một số tƣ liệu và kiến thức chung cho luận văn. Các công trình nghiên cứu đã phân tích khái quát những vấn đề lý luận chung, phân tích, đánh giá thực trạng và đƣa ra một số giải pháp về phát triển khoa học và công nghệ, quản lý vốn đầu tƣ khoa học và công nghệ ở Việt Nam. Việc nghiên cứu về lý luận và thực tiễn quản lý vốn đầu tƣ khoa học và công nghệ từ ngân sách Nhà nƣớc mang tính đặc thù riêng của Hà Nội về tiềm năng, thế mạnh, nguồn lực, về không gian, về định hƣớng phát triển và phù hợp với điều kiện, bối cảnh mới hiện nay khi Việt Nam đang tái cấu trúc nền kinh tế và hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới chƣa đƣợc tiếp cận, phân tích và thực hiện một cách hệ 6 z thống, chuyên sâu.
Luận văn góp phần bổ sung, luận giải thêm một số nội dung về lý luận và thực tiễn quản lý vốn đầu tƣ KHCN từ ngân sách Nhà nƣớc chƣa đƣợc hệ thống hóa, giải quyết. Đặc biệt, sẽ hệ thống hoá và phân tích chuyên sâu về lý luận và thực tiễn quản lý vốn đầu tƣ KH- CN từ ngân sách Nhà nƣớc tại thành phố Hà Nội. Vì vậy, đây là một công trình nghiên cứu độc lập, không trùng lặp với các công trình đã công bố. Cơ sở lý luận về quản lý đầu tƣ phát triển khoa học và công nghệ 1.
Khái niệm khoa học, công nghệ Khoa học là hệ thống tri thức và các hiện tƣợng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tƣ duy. Dƣới các góc độ khác nhau mà có một số cách hiểu về khoa học nhƣ: Khoa học đƣợc hiểu là hệ thống các tri thức về mọi loại quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội và tƣ duy. Hệ thống tri thức ở đây là hệ thống tri thức khoa học. Khoa học đƣợc hiểu là hệ thống tri thức gồm các quy luật về tự nhiên, xã hội và tƣ duy đƣợc tích luỹ trong quá trình nhận thức trên cơ sở thực tiễn, đƣợc thể hiện bằng những khái niệm, phán đoán, học thuyết.
Phân biệt ra 2 hệ thống tri thức: tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học Tri thức kinh nghiệm: là những hiểu biết đƣợc tích lũy qua hoạt động sống hàng ngày trong mối quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời và giữa con ngƣời với thiên nhiên. Quá trình này giúp con ngƣời hiểu biết về sự vật, về cách quản lý thiên nhiên và hình thành mối quan hệ giữa những con ngƣời trong xã hội. Tri thức kinh nghiệm đƣợc con ngƣời không ngừng sử dụng và phát triển trong hoạt động thực tế. Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệm chƣa thật sự đi sâu vào bản chất, chƣa thấy đƣợc hết các thuộc tính của sự vật và mối 7 z quan hệ bên trong giữa sự vật và con ngƣời.
Vì vậy, tri thức kinh nghiệm chỉ phát triển đến một hiểu biết giới hạn nhất định, nhƣng tri thức kinh nghiệm là cơ sở cho sự hình thành tri thức khoa học. Tri thức khoa học: là những hiểu biết đƣợc tích lũy một cách có hệ thống nhờ hoạt động NCKH, các họat động nầy có mục tiêu xác định và sử dụng phƣơng pháp khoa học. Không giống nhƣ tri thức kinh nghiệm, tri thức khoa học dựa trên kết quả quan sát, thu thập đƣợc qua những thí nghiệm và qua các sự kiện xảy ra ngẫu nhiên trong hoạt động xã hội, trong tự nhiên. Tri thức khoa học đƣợc tổ chức trong khuôn khổ các ngành và bộ môn khoa học nhƣ: triết học, sử học, kinh tế học, toán học, sinh học,… Theo quan điểm Marx thì khoa học đƣợc hiểu là một hình thái ý thức xã hội.
Khoa học tồn tại mang tính độc lập tƣơng đối với các hình thái ý thức xã hội khác nhƣ tôn giáo, đạo đức, ý thức pháp quyền, chức năng xã hội riêng biệt của khoa học là khám phá cái mới. Các định nghĩa về khoa học nói trên tuy không hoàn toàn giống nhau nhƣng đều bao hàm các nội dung sau: Khoa học là hệ thống tri thức về quy luật của sự vật, hiện tƣợng. Chức năng khoa học là khám phá bản chất các hiện tƣợng của thế giới khách quan, hệ thống hoá các tri thức đã khám phá thành lý thuyết, học thuyết khoa học, nghiên cứu ứng dụng những thành quả sáng tạo thế giới hiện thực. Công nghệ: Theo Luật chuyển giao công nghệ năm 2006 có hiệu lực từ 01/7/2007: ―Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phƣơng tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm‖.
Nhƣ vậy, công nghệ bao gồm cả phần cứng và phần mềm, phần cứng của công nghệ đƣợc thể hiện chủ yếu trong tính năng, tác dụng kỹ thuật của máy móc, thiết bị, còn phần mềm của công nghệ đó là bí quyết kỹ thuật, kỹ năng, kinh nghiệm của con ngƣời làm chủ công nghệ. 8 z Công nghệ gồm 4 yếu tố thành phần cơ bản sau đây, mà ngƣời ta thƣờng viết tắt là (T.