Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CÔNG LẬP 1. Cơ sở lý luận về quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo công lập 1. Chi thường xuyên ngân sách nhà nước đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo công lập 1. Khái niệm * Ngân sách nhà nước Ngân sách Nhà nước là phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử.
Sự hình thành và phát triển của ngân sách nhà nước gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của kinh tế hàng hoá tiền tệ trong các phương thức sản xuất của các cộng đồng. Nói cách khác sự ra đời của Nhà nước, sự tồn tại của kinh tế hàng hoá - tiền tệ là những tiền đề cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của ngân sách nhà nước. Cho đến nay, thuật ngữ “Ngân sách Nhà nước” được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế, xã hội ở mọi quốc gia. Thế nhưng, người ta vẫn chưa có sự nhất trí về khái niệm thế nào là Ngân sách Nhà nước? Có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm Ngân sách Nhà nước mà phổ biến là: Thứ nhất: NSNN là bản dự toán thu - chi tài chính của Nhà nước trong một thời gian nhất định (thường là một năm) được Quốc hội thông qua để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước (Vũ Cương, 2002).
Thứ hai: NSNN là quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, là kế hoạch tài chính cơ bản của Nhà nước (Vũ Thị Nhài, 2007). Thứ ba: NSNN là những quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động và sử dụng các nguồn tài chính khác nhau (Nguyễn Hữu Tài, 2007). c 7 Theo Luật Ngân sách Nhà nước của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015thì “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước (Quốc hội, 2015). * Chi Ngân sách nhà nước Chi NSNN là quá trình sử dụng quỹ NSNN theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp nhằm thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của Nhà nước.
Chi NSNN phản ảnh mục tiêu hoạt động của ngân sách, đó là đảm bảo về mặt vật chất (tài chính) cho hoạt động của Nhà nước, với tư cách là chủ thể của NSNN trên hai phương diện: (1) Duy trì sự tồn tại và hoạt động bình thường của bộ máy Nhà nước; (2) Thực hiện các chức năng nhiệm vụ mà Nhà nước phải gánh vác (Vũ Thị Nhài, 2007). Chi NSNN bao gồm hai giai đoạn kếtiếp nhau. Giai đoạn thứ nhất là phân phối (phân bổ) quỹ NSNN cho các đối tượng, mục tiêu khác nhau. Quá trình phân phối được thực hiện trên dự toán và trên thực tế (chấp hành Ngân sách Nhà nước), dựa trên nhiều tiêu thức khác nhau như chức năng, nhiệm vụ, quy mô hoạt động, đặc điểm tự nhiên, xã hội.
thể hiện cụ thể dưới dạng định mức, tiêu chuẩn, chế độ chi ngân sách. Giai đoạn tiếp theo là việc sử dụng phần quỹ ngân sách đã được phân phối của các đối tượng thụ hưởng (quá trình thực hiện chi tiêu trực tiếp các khoản tiền của NSNN). NSNN được sử dụng ở các khâu tài chính Nhà nước trực tiếp, gián tiếp và các khâu tài chính khác phi Nhà nước. Chi ngân sách kết thúc khi tiền đã thực sự được sử dụng cho các mục tiêu đã định.
* Chi thường xuyên NSNN Theo tính chất phát sinh các khoản chi, chi NSNN bao gồm chi thường xuyên và chi không thường xuyên. Trong đó chi thường xuyên là những khoản chi phát sinh tương đối đều đặn cả về mặt thời gian và quy mô các khoản chi. Nói cách khác là những khoản c 8 chi được lặp đi lặp lại tương đối ổn định theo những chu kỳ thời gian cho những đối tượng nhất định. Chi thường xuyên NSNN là các khoản chi gắn liền với việc thực hiện chức năng quản lý kinh tế - xã hội của Nhà nước, phần lớn nhằm mục đích tiêu dùng.
Về mặt bản chất, chi thường xuyên NSNN là hệ thống những quan hệ phân phối lại các khoản thu nhập phát sinh trong quá trình sử dụng có kế hoạch quỹ NSNN để đáp ứng các nhu cầu chi gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước về quản lý kinh tế - xã hội. * Chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục đào tạo công lập Nội dung của chi thường xuyên rất đa dạng và phức tạp, sự phân loại ở các nước không giống nhau. Nếu xét theo từng lĩnh vực chi, chi thường xuyên được chia thành: chi cho các hoạt động sự nghiệp thuộc lĩnh vực văn xã như giáo dục - đào tạo, y tế, văn hoá - nghệ thuật, thể dục - thể thao, thông tấn, báo chí, phát thanh - truyền hình,…chi cho các hoạt động sự nghiệp kinh tế của Nhà nước, chi cho các hoạt động quản lý nhà nước; chi cho các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức khác được cấp kinh phí từ NSNN. Trong đó, chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục đào tạo công lập là toàn bộ các khoản chi từ NSNN mang tính chất lặp đi lặp lại hàng năm cho hệ thống giáo dục và đào tạo quốc dân (Vũ Thị Nhài, 2007).
Nội dung chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục đào tạo công lập Nội dung chi ngân sách nhà nước cho giáo dục - đào tạo gắn liền với cơ cấu, nhiệm vụ của ngành trong mỗi giai đoạn lịch sử và được xem xét ở các giác độ khác nhau. Căn cứ vào cơ cấu tổ chức của ngành giáo dục - đào tạo có thể chia nội dung chi ngân sách Nhà nước cho giáo dục - đào tạo như sau: - Chi Ngân sách cho hệ thống các trường học: + Chi ngân sách cho hệ thống các trường mầm non và các trường phổ thông. c 9 + Chi ngân sách cho các trường đại học, các học viện, các trường cao đẳng, các trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề. + Chi cho các trường Đảng, đoàn thể.
- Chi Ngân sách cho các cơ quan quản lý Nhà nước về giáo dục - đào tạo như: Bộ giáo dục đào tạo, Sở giáo dục, phòng giáo dục. Theo cách phân loại chi NSNN theo yếu tố và phương thức quản lý các khoản chi cho giáo dục: - Chi thường xuyên - Chi xây dựng cơ bản tập trung Đối với các khoản chi thường xuyên căn cứ vào đối tượng của việc sử dụng kinh phí NSNN có thể chia thành 4 nhóm mục chi sau: 1. Các khoản chi cho con người: Như chi lương, các khoản phụ cấp theo lương, chi bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn, chi phúc lợi tập thể cho giáo viên, cán bộ nhân viên, chi học bổng và trợ cấp cho học sinh sinh viên, tiền công. Chi về quản lý hành chính, chi về công tác phí, công vụ phí, điện nước, xăng xe, văn phòng phẩm, chi hội nghị về công tác quản lý.
Chi cho hoạt động chuyên môn: Chi mua tài liệu, đồ dùng giảng dạy và học tập, chi hội thảo, hội giảng, chi cho các lớp bồi dưỡng học sinh, bồi dưỡng chuyên môn, các hoạt động chuyên đề về chuyên môn. Chi mua sắm, sửa chữa, xây dựng nhỏ phục vụ cho hoạt động chuyên môn như: Mua sắm bàn ghế, bảng và các trang thiết bị khác, sửa chữa nhỏ trong trường…(Vũ Thị Nhài, 2007). Vai trò của chi thường xuyên NSNN cho giáo dục đào tạo Giáo dục - đào tạo giữ một vai trò to lớn trong cuộc sống, bởi vậy việc đầu tư để duy trì và phát triển hệ thống giáo dục sao cho phát huy hết hiệu quả của nó là việc làm rất cần thiết. Trong đầu tư tài chính cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo thì NSNN đóng vai trò chủ đạo, thể hiện trên các mặt: Thứ nhất: Chi ngân sách Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc định c 10 hướng phát triển giáo dục quốc dân theo đúng chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước.
Thứ hai: Chi ngân sách Nhà nước cho giáo dục - đào tạo là khoản tiền đầu tư chiếm tỷ trọng lớn nhất, tạo ra cơ sở vật chất, mua sắm sửa chữa, trang bị đồ dùng dạy học. Đây là khoản chi rất cần thiết và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giáo dục. Thứ ba: Đầu tư ngân sách nhà nước tạo điều kiện ban đầu để khuyến khích các tầng lớp nhân dân cùng đóng góp xây dựng trường học, tăng cường cơ sở vật chất để phục vụ công tác giảng dạy của giáo viên và học sinh. Thứ tư: Ngân sách nhà nước chính là nguồn tài chính cơ bản đảm bảo đời sống cho đội ngũ cán bộ quản lý hành chính, các giáo viên trực tiếp giảng dạy của toàn ngành giáo dục.
Để đảm bảo chất lượng giáo dục trước hết phải quan tâm đến đời sống của đội ngũ cán bộ giáo viên. Tóm lại, thông qua việc xem xét vai trò của chi Ngân sách nhà nước cho giáo dục - đào tạo giúp ta thấy được tầm quan trọng của chi Ngân sách nhà nước trong quá trình phát triển nền giáo dục quốc dân. Ngân sách nhà nước vững mạnh kết hợp với chủ trương phát triển giáo dục đúng đắn sẽ thúc đẩy sự phát triển của hệ thống giáo dục. Tuy nhiên vai trò của nó chỉ thực sự đảm bảo phát huy khi có nội dung chi, cơ cấu chi phù hợp, công tác quản lý chi có hiệu quả (Vũ Cương, 2002).
Quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục đào tạo công lập 1. Khái niệm * Quản lý chi NSNN Quản lý chi ngân sách là quá trình phân phối lại quỹ tiền tệ tập trung một cách có hiệu quả nhằm thực hiện chức năng của nhà nước trên cơ sở sử dụng hệ thống chính sách, pháp luật. Chi ngân sách mới thể hiện ở khâu phân bổ ngân sách còn hiệu quả sử dụng ngân sách như thế nào thì phải thông qua các biện pháp quản lý. Rõ ràng quản lý chi ngân sách sẽ quyết định hiệu quả sử c 11 dụng vốn ngân sách (Nguyễn Ngọc Hùng, 2006).
Quản lý chi Ngân sách nhà nước là quá trình thực hiện có hệ thống các biện pháp phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung nhằm phục vụ chi tiêu cho bộ máy và thực hiện các chức năng của Nhà nước.