Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên ở Trường trung cấp nghề theo chuẩn nghề nghiệp. Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên ở trường trung cấp nghề GTVT Thanh Hóa theo chuẩn nghề nghiệp. Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên ở trường trung cấp nghề GTVT Thanh Hóa theo chuẩn nghề nghiệp 6 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƢỠNG CHUYÊN MÔN CHO ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƢỜNG TRUNG CẤP NGHỀ THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu nước ngoài Bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên là 1 vấn đề quan trọng và đã được đưa thành chính sách của nhà nước và những qui định cụ thể trong việc tổ chức bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ và chuẩn hóa trình độ đào tạo cho giáo viên ở nhiều nước trên thế giới hiện nay. Cụ thể: Ở Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu về bồi dưỡng năng lực, chuyên môn cho giáo viên. Công trình của X.đưa ra cả một hệ thông lý luận và kinh nghiệm vững chắc trong lĩnh vực đào tạo và bồi dưỡng nghề nghiệp cho giáo viên[53].
Ở các nước Phương Tây, các công trình nghiên cứu của J.Skinner (1963) [52] lại đề cập cụ thể đến việc tổ chức huấn luyện các kỹ năng giảng dạy cho giáo viên. Đại học Stanford (Mỹ) nhóm “Phi Delta Kapkar” đã trình bày năm nhóm hoạt động kỹ thuật của người giáo viên đứng lớp, có thể xem tương ứng với năm bước lên lớp và dùng để đánh giá đối với giáo viên. Hoạt động bồi dưỡng giáo viên được rất nhiều quốc gia trên thế giới coi là vấn đề cơ bản trong phát triển giáo dục và đào tạo. Năm 1998, Hội nghị UNESSCO về tổ chức quản lý nhà trường được tổ chức tại Neepal đã khẳng định: “Bồi dưỡng đội ngũ giáo viên là vấn đề cơ bản trong phát triển giáo dục”.
Vì vậy, bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên được các nước trên thế giới đặt lên hàng đầu, là một trong những nội dung cơ bản trong cuộc cách mạng cải cách giáo dục,phát triển đất nước. Ngoài ra, tại các nước như: Phần Lan, Đức, Mỹ, Ôtxtraylia, Singgapor…đã đưa vấn đề bồi dưỡng GV trong các chính sách của nhà nước và có các qui định cụ thể về việc tổ chức BD nâng cao NL chuyên môn nghiệp vụ và chuẩn hóa trình độ đào tạo cho giáo viên. Theo Hannele Niemi và Ritva Jakku-Sihvonen, lí do cơ bản 7 dẫn đến thành công của hệ thống giáo dục Phần Lan (Đất nước có thành tích cao nhất trong nhiều kỳ thi PISA) là do Phần Lan đã quyết định nâng chuẩn trình độ GV phổ thông lên trình độ thạc sĩ và mọi GV có nghĩa vụ và quyền hạn phải không ngừng học tập, phát triển chuyên môn. Công trình nghiên cứu về đào tạo GV tiểu học và trung học ở 6 quốc gia Đông Âu của Ủy ban Văn hóa và Giáo dục thuộc Liên minh châu Âu cũng xác định trong công cuộc đổi mới GD, việc BDGV cần phải được chú trọng, phải có kế hoạch lâu dài.
Luật nhà trường của bang Brandenburg, Cộng hoà Liên bang Đức quy định rõ GV phải có nghĩa vụ tham gia BD, thường xuyên cập nhật kiến thức và đưa vào những biện pháp nhằm đào tạo, nâng cao năng lực chuyên môn. Chương trình BDGV có ở ba cấp quản lý: Cấp nhà nước, cấp địa phương và bồi dưỡng tại các nhà trường. Như vậy, đã có một số công trình nghiên cứu về hoạt động bồi dưỡng đội ngũ GV trong đó đã đề cập tới những vấn đề quan trọng như: Quy định cụ thể việc BD là nghĩa vụ của người GV, cần nâng chuẩn trình độ GV phổ thông về kiến thức kiến thức khoa học, kỹ năng nghề.cho giáo viên, hướng tới đạt chuẩn nghề nghiệp. Đó là những tiếp cận đúng và đang được các nhà nghiên cứu tiếp tục kế thừa và triển khai.
Vấn đề quản lý bồi dưỡng đội ngũ GV nhà giáo dục học V.A Xukhômlinxki đã từng yêu cầu:“Phải bồi dưỡng đội ngũ GV, phát huy được tính sáng tạo trong lao động của họ và tạo ra khả năng ngày càng hoàn thiện tay nghề sư phạm, phải biết lựa chọn GV bằng nhiều nguồn khác nhau và bồi dưỡng họ trở thành những GV tốt theo tiêu chuẩn nhất định, bằng các biện pháp khác nhau” [46].A Xukhomlinxki cho rằng phải bồi dưỡng cả về chuyên môn nghiệp vụ, lẫn phẩm chất đạo đức cho đội ngũ này. Ông rất đề cao tầm quan trọng của việc tổ chức hội thảo chuyên môn, qua đó GV có điều kiện trao đổi những kinh nghiệm về chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao trình độ của mình. Ông cũng đã tổng kết 26 năm kinh nghiệm thực tiễn làm công tác quản lý chuyên môn nghiệp vụ của một Hiệu trưởng và cho rằng sự phân công hợp lý, sự phối hợp chặt chẽ và thống nhất quản lý giữa Hiệu trưởng và phó Hiệu trưởng có ý nghĩa quan trọng nhằm đạt được mục tiêu đề ra. 8 Các nước như Hoa kỳ, Nhật bản, Singapore…luôn xem GV là điều kiện tiên quyết của sự nghiệp giáo dục và phát triển giáo dục.
Cụ thể: Chính phủ Mỹ đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng chuẩn giáo viên và quản lý bồi dưỡng chuyên môn. Sở giáo dục và hội đồng cấp chứng chỉ kiểm định giáo viên, các Bang chịu trách nhiệm tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên trước khi cấp giấy phép hành nghề. Chính phủ Mỹ lấy giải pháp phát triển đội ngũ CBQL và GV làm then chốt trong chiến lược đưa giáo dục Hoa Kỳ vươn lên trong tốp đầu về chất lượng của giáo dục thế giới. Ngoài ra, hầu hết các trường sư phạm ở Úc, New Zeland, Canada.
đã thành lập các cơ sở chuyên bồi dưỡng giáo viên để tạo điều kiện cho ĐNGV tham gia học tập nhằm không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Ở Nhật Bản, việc bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục là nhiệm vụ bắt buộc đối với người lao động sư phạm, bởi giáo viên là nghề được xã hội tôn vinh, được hưởng mức lương cao hơn công chức 30%. Cấp quản lý giáo dục đề ra các phương thức bồi dưỡng khác nhau theo điều kiện thực tế của đơn vị, nhưng đều tập trung vào đổi mới phương pháp dạy học. Như vậy, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đã và đang được các nước trên thế giới đặc biệt quan tâm, trong đó có Việt Nam.
Các nghiên cứu trong nước Cũng như hầu hết các nước trên thế giới, ở Việt Nam vấn đề BDGV là nhiệm vụ quan trọng và thường xuyên của cơ quan QLGD. Mục đích chủ yếu của BDGV là bổ sung cập nhật kiến thức chuyên môn, nâng cao năng lực sư phạm của người giáo viên. Ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học về công tác quản lý nhà trường, trong đó có đề cập đến quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên. Cụ thể: Một số nhà khoa học như: Phạm Minh Hạc, Nguyễn Ngọc Quang, Đặng Vũ Hoạt, Đặng Quốc Bảo., đã nêu lên những nguyên tắc chung của quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, làm rõ những vấn đề cơ bản về khoa học quản lý như: khái niệm, bản chất và các giai đoạn của hoạt động quản lý và một số giải pháp trong quản lý nhà trường các bậc học.
9 Năm 2009, sau khi Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành chuẩn nghề nghiệp giáo viên (CNNGV), một số tác giả nghiên cứu mức độ đạt chuẩn cho GV vừa tốt nghiệp đại học sư phạm để làm căn cứ đề xuất điều chỉnh nội dung và đổi mới PP đào tạo trong trường Đại học, Cao đẳng theo định hướng CNN. Tác giả Lê Thị Linh Giang (2011) trong “Nghiên cứu mức độ đáp ứng CNN GV THPT của cử nhân sư phạm trường ĐH An Giang” đã đề xuất thiết lập mối quan hệ giữa các trường THPT thông qua Internet, xây dựng một diễn đàn cho GV, mỗi GV cần tham khảo CNN để từ đó tự đánh giá NL của bản thân, có kế hoạch tự BD, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ…Tác giả Trần Thị Hải Yến cho rằng không chỉ BD về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống mà cần chú ý đến việc BD cả về kiến thức chuyên môn và các kĩ năng sư phạm cần thiết cho GV tại TCM [48]. Về hình thức BD cũng có nhiều công trình nghiên cứu. Có thể kể đến Nguyễn Minh Đường [34], Vũ Quốc Chung [51], Trần Bá Hoành [49] các tác giả đã đưa ra nhiều hình thức tổ chức bồi dưỡng.
Phan Thị Lạc (2004) đã đề xuất hình thức bồi dưỡng qua kênh truyền hình, xác định thời gian, kênh phát sóng chương trình khá hợp lý và khả thi [38]; Tác giả Phùng Như Thụy đã nêu các hình thức BD cho giáo viên tiểu học như: BD tại chỗ, BD từ xa và tổ chức cho giao viên tự bồi dưỡng [39]. Nhiều tác giả khẳng định công tác đào tạo, bồi dưỡng chỉ thu được kết quả tốt khi mọi người ý thức tầm quan trọng của hoạt động này, chuyển quá trình đào tạo, bồi dưỡng thành quá trình tự bồi dưỡng bản thân. Về phương pháp BDGV cũng có nhiều công trình và bài viết có liên quan. Tác giả Nguyễn Hữu Dũng (1996) đã nêu ra các phương pháp cụ thể và khẳng định việc lựa chọn phương pháp nào phải phụ thuộc vào nhiều yếu tố như trình độ của người học, lĩnh vực được đào tạo và mục tiêu học tập, năng lực của giảng viên [30]; Tác giả Nguyễn Thị Tuyết Trinh cho rằng cần chú trọng tăng cường thực hành, giải đáp thắc mắc cho người học [31].
Như vậy, có thể thấy, các tác giả đã khẳng định ý nghĩa rất quan trọng của công tác BDGV, đã phân tích và đề xuất cụ thể nhiều nội dung và hình thức BDGV. Ngoài ra, trong những năm gần đây, có rất nhiều các bài viết về quản lý BDGV đã được đăng tải trên báo Giáo dục và thời đại, tạp chí Nghiên cứu giáo dục (nay là tạp chí Giáo dục), tạp chí thông tin Khoa học giáo dục (nay là tạp chí Khoa 10 học giáo dục) và các hội thảo khoa học nghiên cứu về công tác BDGV bàn về việc tổ chức hoạt động BDGV, vấn đề chuẩn hóa và nâng chuẩn đội ngũ GV đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình.