phần Mở đầu, Kết luận và Hàm ý cho Việt Nam, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm có 4 chƣơng: CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐÀI LOAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH MỸ - TRUNG DƢỚI GÓC NHÌN HIỆN THỰC 1. Vị trí địa lý 1. Lƣợc sử Đài Loan 1. Nội chiến Quốc - Cộng 1.
Hậu Thiết quân luật 1. Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về cạnh tranh Mỹ - Trung 1. Quan điểm của chủ nghĩa hiện thực về cạnh tranh giữa các cƣờng quốc 1. Khái quát quan hệ cạnh tranh chiến lƣợc Mỹ - Trung từ sau nội chiến Quốc - Cộng đến năm 2012 1.
Tiếp cận vấn đề Đài Loan trong quan hệ Mỹ - Trung từ góc nhìn hiện thực tấn công CHƢƠNG 2: CHÍNH SÁCH CỦA TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI ĐÀI LOAN 2. Chính sách “Một nƣớc Trung Quốc”: Nền tảng then chốt trong quan hệ Mỹ - Trung 2. Bối cảnh và nội dung chính sách “Một nƣớc, Hai chế độ” 2. Nguyên tắc “Một nƣớc Trung Quốc” trong giải quyết vấn đề Đài Loan 2.
Chính sách của Trung Quốc đối với Đài Loan dƣới thời Tập Cận Bình 2. Luật chống li khai 2. Ý nghĩa “Luật Chống li khai” của Trung Quốc Trang 24 CHƢƠNG 3: CHÍNH SÁCH CỦA MỸ ĐỐI VỚI ĐÀI LOAN 3. Lợi ích của Mỹ ở Đài Loan 3.
Thay đổi chính sách của Mỹ đối với Đài Loan 3. Đặc trƣng chính sách của Mỹ đối với Đài Loan 3. Tính mơ hồ chiến lƣợc 3. Nguyên tắc quan hệ CHƢƠNG 4: NHÂN TỐ ĐÀI LOAN TRONG QUAN HỆ MỸ - TRUNG 4.
Quan điểm cứng rắn của Đài Loan đối với Nhận thức chung 1992 4. Vấn đề Đài Loan trong quan hệ giữa hai cƣờng quốc Trung Quốc và Hoa Kỳ 4. Viễn cảnh hai bờ eo biển Đài Loan 4. Viễn cảnh 1: Duy trì hiện trạng eo biển Đài Loan 4.
Viễn cảnh 2: Đài Loan trở về với Trung Quốc bằng phƣơng thức hòa bình 4. Viễn cảnh 3: Vấn đề Đài Loan diễn biến căng thẳng và bạo lực Trang 25 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐÀI LOAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH MỸ - TRUNG DƢỚI GÓC NHÌN HIỆN THỰC 1. Vị trí địa lý Các đặc điểm địa lý, chẳng hạn nhƣ vị trí, tài nguyên thiên nhiên, khí tƣợng và địa hình, là những hằng số tƣơng đối ổn định trong quá trình hoạch định chiến lƣợc. Tuy nhiên, giá trị địa chiến lƣợc thực tế của một địa điểm sẽ thay đổi theo sự phát triển xã hội, chính trị và công nghệ.
Đảo Đài Loan có diện tích nhỏ: 35.883 km2 (không bao gồm các đảo đƣợc cải tạo về mặt địa hình nhƣ Penghu và các đảo liên quan đến tranh chấp chính trị nhƣ Kinmen, Matsu, Dongsha và Taiping. Đảo dài 394 km và rộng 144 km tại điểm rộng nhất.000 m, đồi thấp hơn và ruộng bậc thang chiếm 69% diện tích đảo Đài Loan. Một ngọn núi Trung tâm dài 270 km cắt hòn đảo thành hai phần phía Tây và phía Đông. Trong khi các ngọn núi chiếm ƣu thế ở trung tâm Đài Loan và bờ biển phía Đông gồ ghề, thì phía Tây của hòn đảo chủ yếu là đồng bằng phù sa, nơi tập trung phần lớn dân cƣ, các hoạt động canh tác, thƣơng mại hàng hải và các ngành công nghiệp.
Từ triều đại nhà Thanh, vị trí địa lý của Đài Loan đƣợc Hoàng đế Khang Hy bình luận rằng "chỉ là một hòn đảo nhỏ bé. Đế quốc chẳng kiếm đƣợc gì và chẳng mất gì nếu không có nó" (Chow, 2014). Sau chiến tranh Trung - Pháp (1884 - 1885), nhà Thanh bắt đầu nhận thấy tầm quan trọng chiến lƣợc của Đài Loan. Sau Chiến tranh Trung - Nhật lần thứ nhất năm 1894 - 1895, nhà Thanh nhƣờng chủ quyền Đài Loan cho Nhật Bản theo Hiệp ƣớc Shimonoseki.
Đài Loan từ một hòn đảo tự nhiên bị triều đại nhà Thanh ngó lơ trở thành đầu cầu mở rộng của Nhật Bản sau khi Nhật Bản mua lại quần đảo Ryukyu. Trong phạm vi của bức tranh địa chiến lƣợc lớn hơn, Đài Loan còn có tên gọi Formosa, cũng nằm trong vành đai của vùng biển Đông Á, hay đƣợc ví von là Địa Trung Hải Châu Á, đƣợc miêu tả trong cuốn sách The Geography of the Peace (1944) của Nicholas John Spykman. Spykman đã đƣa ra quan điểm rằng Đài loan là mục tiêu chiến lƣợc quan trọng trong các cuộc hải chiến tại vùng biển Đông Á trong Thế chiến thứ hai. Halford John Mackinder cũng đã sửa đổi thuyết địa Trang 26 chính trị Vùng đất trung tâm trƣớc đó của mình và xuất bản một bài báo The round world and the winning of the peace vào năm 1943 để nhấn mạnh tầm quan trọng của vành đai và biển cận biên (Auslin, 2016).
Đài Loan đứng ở trung tâm của chuỗi đảo đầu tiên - chuỗi các đảo từ Nhật Bản, Ryukyus và Đài Loan, đến Philippines, gần tƣơng đƣơng với đƣờng bờ biển lục địa của Trung Quốc. Eo biển Đài Loan ngăn cách Đài Loan với Trung Quốc. Biển Hoa Đông nằm ở phía bắc, Thái Bình Dƣơng ở phía đông, kênh Bashi (rộng 250 km) ở phía nam và Biển Đông ở phía tây nam. Eo biển Đài Loan là một trong những tuyến giao thông đƣờng biển quan trọng trong khu vực.
Vào thời điểm hiện tại, khoảng 400 tàu thuyền (không bao gồm tàu đánh cá) đi qua eo biển này mỗi ngày. Do đó, Đài Loan nằm ở ngã ba của các động lực hoạt động. Về mặt lịch sử, một mặt Đài Loan nối liền lục địa Châu Á và Thái Bình Dƣơng, là nơi giao thoa giữa các cƣờng quốc trên bộ và trên biển. Mặt khác, ở phía bắc là các quốc gia phát triển và ở phía nam là khu vực tài nguyên nhất ở Đông Á.
Do đó, Đài Loan trở thành tuyến đƣờng cần thiết cho tất cả các loại liên hệ kinh tế - xã hội chính trị (thậm chí kể cả chiến tranh) trong khu vực (Toshi, 2012). Cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ ba năm 1996 và cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 cho thấy sự an toàn, an ninh và ổn định của Đài Loan có ảnh hƣởng đến sự ổn định của khu vực Đông Á (Wu, 2017). Trong đó, (Wachman, 2008) cho rằng thái độ của Trung Quốc đối với Đài Loan cũng phản ánh nhu cầu an ninh để Trung Quốc đại lục có thể cạnh tranh với Hoa Kỳ. Sau khi chuyển đổi chính trị từ độc đảng sang dân chủ hiện đại, hiện có nhiều đảng từ các chiến dịch cạnh tranh trong các cuộc bầu cử địa phƣơng ở Đài Loan, bao gồm các thị trƣởng thành phố và lãnh đạo Đài Loan.
Nền kinh tế của Đài Loan phụ thuộc nhiều vào hoạt động ngoại thƣơng sử dụng đƣờng biển. Lƣợc sử Đài Loan 1. Nội chiến Quốc - Cộng Tháng 8 năm 1945, lực lƣợng phát xít liên tục thất bại ở khu vực châu Á – Thái Bình Dƣơng. Đƣợc sự hỗ trợ của lực lƣợng quân Đồng minh, ngày 02 tháng 9 Trang 27 năm 1945, trƣớc sự chứng kiến của viên Tƣ lệnh Mặt trận Tây Nam Thái Bình Dƣơng MacAthur, trên tuần dƣơng hạm Missouri phái đoàn của Nhật đã kí hiệp ƣớc đầu hàng vô điều kiện lực lƣợng Đồng minh.
Sự kiện này cũng kết thúc cuộc kháng chiến chống Nhật của nhân dân Trung Quốc bắt đầu từ năm 1937. Cuộc kháng chiến chống Nhật kết thúc, Quốc dân Đảng do Tƣởng Giới Thạch đứng đầu đã có những hoạt động quy mô lớn phát động cuộc nội chiến chống lại nhân dân Trung Quốc. Trung Quốc bƣớc vào cuộc nội chiến giữa hai thế lực, Đảng Cộng sản và Quốc dân Đảng. Tƣơng quan lực lƣợng giữa hai bên khá tƣơng đồng.
Mỹ đã trang bị cơ sở vật chất kĩ thuật cho Quốc dân Đảng với số quân hơn 4,6 triệu ngƣời, mặc dù trang thiết bị hiện đại hơn lực lƣợng của Đảng Cộng sản, nhƣng tinh thần chiến đấu của lực lƣợng Quốc dân Đảng không cao. Các khu vực mà Quốc dân Đảng chiếm đóng thƣờng ở sâu trong lục địa, khu vực phía tây và tây nam Trung Quốc. Khi cuộc kháng chiến chống Nhật gần kết thúc, Tƣởng Giới Thạch đã kêu gọi Mỹ giúp chuyển quân đến các khu vực phía đông nhƣ Thƣợng Hải, Nam Kinh, Bắc Bình, Thiên Tân, Quảng Châu và Triết Giang. Trong khi đó, lực lƣợng Quân giải phóng Trung Quốc không ngừng lớn mạnh sau cuộc kháng chiến chống Nhật.
Đến cuối năm 1945, Quân giải phóng Trung Quốc có 90 vạn quân chính quy (bao gồm hai bộ phận Bát Lộ quân và Tân Từ quân) và hơn 2,2 triệu dân quân. Địa bàn của lực lƣợng Quân giải phóng Trung Quốc là khu vực Hoa Bắc và Hoa Trung. Từ ngày 11 tháng 8 năm 1945, tƣớng Chu Đức đã ra lệnh tấn công giải phóng các thành phố nhỏ và vừa, hƣớng đến giải phóng các thành phố lớn. Trong đợt tấn công lần thứ nhất, lực lƣợng Quân giải phóng Trung Quốc đã giành quyền kiểm soát các thành phố ở khu vực phía bắc sông Dƣơng Tử, đẩy lực lƣợng của Quốc dân Đảng về khu vực phía nam và các vùng ven biển đông nam Trung Quốc.
Ngày 26 tháng 6 năm 1946, lực lƣợng Quốc dân Đảng tấn công vào khu vực Trung Nguyên do Đảng Cộng sản kiểm soát, mở đầu cho giai đoạn hai nội chiến Quốc – Cộng. Trang 28 Giai đoạn từ tháng 6 năm 1946 đến tháng 6 năm 1947, sau thất bại ở trận Tứ Bình (Cát Lâm, Trung Quốc), lực lƣợng Quân giải phóng Trung Quốc đã thay đổi chiến thuật, đó là không giữ quyền kiểm soát các đô thị mà chuyển sang tập trung lực lƣợng lớn, thực hiện vận động chiến để tiêu diệt lực lƣợng của Quốc dân Đảng. Sau thất bại ở trận Tƣ Bình, Mao vạch ra một chiến lƣợc mới là tạm thời bỏ mọi đô thị - là nơi chỉ có thể bảo vệ bằng cách tập trung một lực lƣợng lớn. Thay vào đó, họ dồn tất cả lực lƣợng vào những cuộc vận động chiến nhằm tiêu diệt sinh lực của đối phƣơng.
Các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã đánh giá lực lƣợng Quốc dân Đảng sẽ tập trung vào việc chiếm lại các thành phố, điều đó đồng nghĩa với việc phải phân tán lực lƣợng, mặc dù họ đƣợc Mỹ hỗ trợ khí giới hiện đại. Việc thay đổi chiến lƣợc của lực lƣợng Quân giải phóng Trung Quốc đã dẫn đến những thay đổi trong chiến cuộc giai đoạn sau. Giai đoạn từ tháng 6 năm 1947 đến tháng 10 năm 1949, Tƣởng Giới Thạch và lực lƣợng Quốc dân Đảng đã nhanh chóng chiếm lại các thành phố mà lực lƣợng Đảng Cộng sản rời đi. Lực lƣợng đƣợc xem là tinh nhuệ của Quốc dân Đảng bị phân tán, dàn mỏng.
Tƣớng Bành Đức Hoài nhanh chóng tiêu diệt các sƣ đoàn của Quốc dân Đảng ở Tây An.