MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong thế kỷ XXI, thế kỷ thách thức và cơ hội mới đối với nền kinh tế của các quốc gia trong khu vực và thế giới. Một quốc gia có vị trí vững mạnh trong một trật tự thế giới mới, thì điều kiện tiên quyết đầu tiên chính là kinh tế. Mỗi quốc gia đều nhận thức sâu sắc về xu thế toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ.
Vì vậy, sự phụ thuộc hay liên kết giữa các quốc gia là điều quan trọng về kinh tế, an ninh, chính trị. Tại sao các nước vẫn đang nổ lực xây dựng vì một hòa bình thịnh vượng. Ở hiện nay, hòa bình trên thế giới đang được củng cố nhất định nhưng nhiều nơi vẫn xảy ra các tình trạng về xung đột biên giới, sắc tộc, mâu thuẫn tôn giáo,… Do vậy việc đối ngoại, quan hệ quốc tế và liên kết của các quốc gia với nhau là yếu tố giúp cho quốc gia đó có được cân bằng và phát triển quyền lực trong khu vực và thế giới. Đối ngoại là một trong hai chức năng cơ bản của bất kì nhà nước nào trong lịch sử.
Nó thể hiện vai trò và hoạt động của nhà nước trong các mối quan hệ của nhà nước, dân tộc cũng như các tổ chức quốc tế khác nhau. Trong thời đại ngày nay, các quốc gia không thể phát triển, thậm chí không tồn tại nếu không có quan hệ với thế giới bên ngoài. Vì thế “Chính sách đối ngoại và hoạt động đối ngoại là tất yếu khách quan trong quan hệ giữa quốc gia và quốc tế” (Đoàn Văn Thắng, 2001, tr. Nhật Bản – quốc gia được biết đến với nhiều tiến bộ vượt bậc nhất thế giới về giao thông, khoa học kỹ thuật và xã hội con người.
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai trở thành quốc gia có nền kinh tế thứ hai sau Mỹ. Góp phần thúc đẩy mạnh mẽ vào sự phát triển của các tổ chức, duy trì ổn định hòa bình và sự phát triển các quốc gia trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Chính sự phát triển này, đã tạo cho Nhật Bản một vị thế hết sức quan trọng trong chiến lược của nhiều quốc gia. Nhưng nếu, Nhật Bản luôn “đứng yên” tại một vị trí mà không có các chính sách phù hợp, thì sự tăng trưởng kinh tế Nhật Bản chỉ ở một giới hạn nào đó, trong khi nhiều nước đang trên đỉnh toàn cầu.
Trong điều kiện đó, các chuyên gia cho rằng Nhật Bản nên có chính sách khôn ngoan trong đối nội lẫn đối ngoại. Ở những năm đầu thế kỷ XXI, Nhật Bản xây dựng chiến lược ngoại giao cơ bản trong thế kỷ mới của mình, nhấn mạnh ở “lợi ích quốc gia”, tăng cường “tính tự chủ ngoại giao” và đối phó “tình hình mới ở khu vực”. Đây 1 là những xu hướng trọng tâm của quốc gia Đông Bắc Á này (Nhật Bản), phản ánh được mong muốn từng bước nâng cao địa vị quốc tế, sức mạnh quốc gia và đặc biệt là sự ảnh hưởng trong các mối quan hệ song phương. Vì thế, việc mở rộng và nâng cao chiến lược hợp tác song phương với gã khổng lồ châu Á (Ấn Độ), sẽ giúp Nhật Bản lấy lại vị thế “lừng danh” và hưởng được thái bình và thịnh vượng trong tương lai.
Đặc biệt, trong bối cảnh Trung Quốc đang trỗi dậy một cách mạnh mẽ, sự cạnh tranh của các quốc gia trên thế giới. Do đó, việc xác định đối tác trong chiến lược đối ngoại của mình là hết sức quan trọng Với Ấn Độ, người ta biết đến với quốc gia có nền kinh tế mới nổi của thế giới, đang chiếm lĩnh nhiều ngành khoa học – công nghệ hiện đại như: nghiên cứu vũ trụ, năng lượng hạt nhân, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin,. Ngang hàng với các nước đang phát triển. Vị thế Ấn Độ ngày được nâng cao, nền kinh tế vươn lên vượt trội.
Trên cơ sở đó, Ấn Độ hiện nay được xem như là một quốc gia có nhiều triển vọng để các quốc gia trong khu vực và thế giới thúc đẩy, nâng cao vị thế. Trở thành một đối tượng cân bằng quyền lực mới ở châu Á. Trong chính sách đối ngoại của mình, Ấn Độ nêu quan điểm thẳng thắn, xác định mục tiêu, lợi ích quốc gia bao gồm: “Sự thịnh vượng quốc gia; Một nền an ninh được đảm bảo để duy trì sự thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và hòa bình, ổn định; Sự phát triển toàn diện về kinh tế – chính trị – văn hóa – xã hội; Nâng cao vị thế của Ấn Độ trong khu vực cũng như trên trường quốc tế” (V. Từ khi triển khai Chính sách hướng Đông (1991) và nâng cấp thành Chính sách hành động phía Đông (2014), Ấn Độ đã mở rộng quan hệ phạm vi và gia tăng cường độ cũng như tốc độ hợp tác với các quốc gia khu vực Đông Bắc Á, trong đó Nhật Bản được xem là đối tác chiến lược toàn diện trong Chính sách hành động phía Đông của Ấn Độ.
Bàn về mối quan hệ của Nhật Bản – Ấn Độ, quỹ đạo của quá trình phát triển trong mối quan hệ hai quốc gia này bắt đầu từ thập niên đầu tiên thế kỷ XXI. Sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, trật tự hai cực tan rã, nhìn chung cục diện thế giới có nhiều thay đổi. Mở ra một thời kỳ mới trong việc tăng cường hội nhập các quan hệ quốc tế trên diện rộng về quyền lực chính trị và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia. Trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI mối quan hệ của Nhật Bản – Ấn Độ được nâng cấp từ “Quan hệ đối tác chiến lược toàn cầu” trong thập niên đầu tiên thế kỷ XXI, 2 thành “Quan hệ đối tác chiến lược đặc biệt và toàn cầu” trong thập niên thứ hai thế kỷ XXI.
Đặc biệt, dần được đẩy mạnh xúc tác mạnh mẽ qua niềm thân tình của Thủ tướng Nhật Bản Abe Shinzo và người đồng cấp Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi đã đưa mối quan hệ này lên một tầng cao mới ở thập niên thứ hai thế kỷ XXI. Việc nâng cao chiến lược hợp tác đôi bên sẽ giúp Nhật Bản – Ấn Độ định hình được vai trò của mình trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương và “Bộ tứ kim cương” cùng hướng đến xây dựng một nền kinh tế vượt bậc và phát triển. Trong tầm quan trọng về chiến lược và địa – chính trị ngày càng lớn ở Ấn Độ Dương và đặc biệt là nhằm đối trọng sáng kiến “Vành đai và Con đường” của Trung Quốc. Và đây rõ ràng là sự phấn đấu vì một hòa bình, vì quốc gia dân tộc “Không chỉ là niềm hy vọng nhiệt thành, mà còn là một nhu cầu khẩn thiết” (Đinh Trung Kiên, 1995, tr.
Chủ đề về quan hệ Nhật Bản – Ấn Độ và các phương diện trong mối quan hệ của hai quốc gia này được giới học giả nước ngoài dành sự quan tâm rất lớn. Nhưng ở Việt Nam thì phần lớn, các công trình nghiên cứu và các bài viết liên quan chỉ tập trung nêu lên những vấn đề về tác động đến quan hệ hai nước, xung đột biên giới lãnh thổ Trung Quốc với Ấn Độ, Nhật Bản hay các khoản hỗ trợ đầu tư của Nhật Bản cho Ấn Độ mà chưa kỹ lưỡng hay đi sâu tổng quan về các quan hệ hợp tác cụ thể, nhất là những vấn đề mang tính thời sự như: Bối cảnh sự trỗi dậy của Trung Quốc ở khu vực Ấn Độ Dương; Ảnh hưởng đại dịch Covid-19. Luận văn với định hướng phân tích điểm mấu chốt trong quan hệ song phương Nhật Bản – Ấn Độ, làm rõ các nhân tố tác động tới quan hệ hai nước, đưa ra cái nhìn tổng thể về các lĩnh vực hợp tác trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI, chủ yếu nhấn mạnh vào giai đoạn thập niên thứ hai thế kỷ XXI, khi hai nước nâng cấp quan hệ ở tầm cao mới. Về công trình nghiên cứu, tài liệu nghiên cứu quan hệ Nhật Bản – Ấn Độ rất ít tính đến thời điểm hiện tại.
Theo sự hiểu biết của tôi, ở Việt Nam thì chưa có luận văn nào nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực quan hệ quốc tế của Nhật Bản – Ấn Độ trong cả hai thập niên đầu thế kỷ XXI. Việc chọn mối quan hệ Nhật Bản – Ấn Độ là đối tượng nghiên cứu không thuộc sự ngẫu nhiên mà có sự chu toàn và tính toán kỹ lưỡng. Thứ nhất, để trở thành cường quốc trên thế giới về kinh tế, Nhật Bản đã không ít trải qua những cuộc cải cách lớn, chính sách kinh tế và liên kết khu vực. Thêm vào đó là ý chí, sự kiên cường, nỗ lực 3 của người Nhật trong công cuộc cải cách đất nước.
Điều này đã giúp Nhật Bản chấn hưng đất nước, là niềm tự hào mơ ước của rất nhiều bạn bè quốc tế, trong sự tin tưởng lựa chọn thành đối tác, “người bạn” và đồng minh trong các hợp tác quốc tế. Thứ hai, trong bối cảnh địa – chính trị sôi nổi hiện nay được xem như là một “bàn cờ” đầy sôi động, nhất là khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Sẽ là cơ hội, thách thức và phát huy được năng lực chiến lược của các gã khổng lồ châu Á trong đó có Nhật Bản và Ấn Độ “Thật ra, quyền lực sẽ cân bằng quyền lực” (Michael Mastanduno, 1997, tr. Cuối cùng, khi mà một Nhật Bản thần kỳ và một Ấn Độ vững mạnh sẽ không chỉ giúp hai quốc gia lớn mạnh về năng lực và trí tuệ.
Mà còn góp phần ổn định khu vực và thế giới, đảm bảm sự hài hòa và như ý. Từng là sinh viên của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, đang công tác tại Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, với chuyên môn công việc về truyền thông và quan hệ đối ngoại. Việc nghiên cứu đề tài có nghĩa thực tiễn vô cùng to lớn, giúp bản thân bổ sung kiến thức, mang tính thời sự cùng với đó là phục vụ cho công việc. Hơn thế nữa chính niềm yêu quý đối với quốc gia Nhật Bản và Ấn Độ.
Nên việc mong muốn tìm hiểu nghiên cứu về quan hệ hợp tác quốc tế của Nhật Bản với Ấn Độ là điều tất yếu. Vì những lý do trên, tôi quyết định chọn: “Quan hệ Nhật Bản – Ấn Độ trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI” để nghiên cứu, làm đề tài cho luận văn thạc sĩ cho mình. Mục đích nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của luận văn gồm: Một là, làm sáng tỏ những nhân tố tác động đến quan hệ của Nhật Bản – Ấn Độ trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI.