Chương 1: NHỮNG NHÂN TO TÁC ĐỘNG DEN QUAN HỆ KINH TE VIỆT NAM - ÁN ĐỘ TỪ NĂM 2007 ĐÉN NĂM 2022 1. Bối cảnh thế giới và khu vực 1. Tình hình thế giới Sau Chiến tranh lạnh, thế giới có nhiều biến động, tạo ra thuận lợi nhưng cũng đặt các quốc gia, dân tộc trước những thử thách to lớn. Trước hết, xu thế toàn cầu hóa, xu thế hội nhập ngày càng diễn ra mạnh mẽ.
Toàn cầu hóa thúc đây sự phụ thuộc giữa các quốc gia và sự hội nhập kinh tế - chính trị ở cấp độ toàn cầu. Bên cạnh tăng cường liên kết trong một phạm vi rộng lớn với nhiều yêu tố khác biệt; các quốc gia có vị trí địa lý gần gũi, cùng chung mục đích, sự quan tâm về một hoặc nhiều vấn đề, mối bận tâm sẽ có sự kết ni, hợp tác nhằm đạt được những kết quả chung, đôi bên cùng có lợi. Quá trình hợp tác này thu hút sự tham dự của các cường quốc thé giới, tạo cơ sở dé các tổ chức khu vực, tiểu khu vực, vùng, tiểu vùng tiếp tục tăng cường hoạt động, mở rộng quy mô và hiệu qua hợp tác. “Các t6 chức hợp tác, liên kết khu vực khác ở châu A, Phi, Mỹ La-tinh, Bắc Mỹ, Trung Đông, Nam A, châu A - Thái Bình Dương v.
déu có nhiều hoạt động phong phú, da dạng theo xu thé vừa hợp tác vừa dau tranh cho hòa bình va phát triển bên vững. ” [138] Sự phát triển mạnh mẽ của xu thế hội nhập tạo điều kiện dé các quốc gia liên kết chặt chẽ hơn trong các lĩnh vực hợp tác, đặc biệt là kinh tế. Dòng chảy thương mại 6n định, được liên kết trong xu thế hội nhập giúp thế giới trở thành thị trường thống nhất. Nhiều chính sách thuế quan, rào cản thương mại được các quốc gia xem xét loại bỏ dé hoạt động hội nhập kinh tế diễn ra hiệu quả hơn.
Quá trình này cũng tạo điều kiện đề các quốc gia có chung mục tiêu phát triển tăng cường hợp tác, giúp xây dựng mối quan hệ song phương, đa phương, tiểu vùng, vùng, khu vực. trở nên vững chắc. Trong quá trình hội nhập, xu thế hòa hoãn, đối thoại, thương lượng dé giải quyết các tranh chap được các quốc gia nỗ lực thực hiện. Quan hệ Mỹ - Nga được cải thiện, triển khai hợp tác trên nhiều lĩnh vực, bao gồm cả kinh tế để mang lại lợi ích cho cả đôi bên.
Quan hệ Trung - Nhật tiến triển với nhiều hoạt động hợp 17 tác cùng có lợi được hai nước chia sẻ và thúc đây. Giữa các quốc gia có mâu thuẫn như Ấn Độ - Pakistan, Ấn Độ - Trung Quốc, Trung Quốc - Việt Nam đều ghi nhận sự giảm thiêu mâu thuẫn, đối đầu dé tăng cường kha năng hợp tác. Trong hoạt động giải quyết các vấn đề khu vực và quốc tế khác, các hoạt động đối thoại, thương lượng dé giải quyết tranh chấp giữa các nước lớn được triển khai hiệu quả, ghi nhận kết quả tích cực: giải quyết xung đột ở Trung Đông, khủng hoảng hạt nhân ở lran, bán đảo Triều Tiên. Mặt khác, sau Chiến tranh lạnh, thế giới dần chuyền từ chạy đua vũ trang sang chạy đua khoa hoc công nghệ, kỹ thuật dé giành ưu thế về kinh tế - chính trị.
Cách mạng khoa học công nghệ phát trién nhanh chóng va lan rộng ra khắp nơi trên thé giới. Giới chức lãnh đạo nhìn nhận khoa học công nghệ là thước do dé đánh giá sức mạnh tong hợp của một đất nước. Tại mỗi quốc gia, khoa học công nghệ được xác định là yếu tố then chốt dé xây dựng nội lực vững mạnh thúc đây khả năng sản xuất và nâng cao sức cạnh tranh của các nhà sản xuất, cung ứng. “Sản phẩm khoa học công nghệ đóng góp trực tiếp vào GDP, dong thời quyết định tăng trường trong dài han và chất lượng tăng trưởng” [33, tr.53] Yêu cầu này cũng khiến các quốc gia phải đề ra chiến lược phát triển mới cho phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế, hoặc là cơ cấu lại ngành và nền kinh tế, hoặc là thực hiện các chính sách cải cách, đổi mới.
Đối với các nước lớn, sự thay đổi về tư duy, nhận thức của giới chức lãnh đạo kết hợp với làn sóng phát triển của khoa học công nghệ dẫn tới tình thế các cường quốc phải giảm chạy dua vũ trang và nguồn ngân sách không lồ cho công tác quốc phòng. Thay vào đó là tiến tới hợp tác hòa bình trên tinh thần đối thoại, day mạnh cải thiện quan hệ và tăng cường hợp tác kinh tế và khoa học công nghệ nhằm tăng cường sức mạnh quốc gia. Quá trình này gián tiếp tạo ra những tác động mạnh mẽ lên quan hệ quốc tế. Tuy nhiên, thế giới hiện nay vẫn tồn tại nhiều vấn đề phức tạp.
Những năm đầu thế kỷ XXI, các phong trào ly khai diễn ra mạnh mẽ ở nhiều quốc gia trên thế giới. Mục tiêu của các phong trào này đều là đòi độc lập, thành lập các quốc gia riêng do mâu thuẫn về xung đột sắc tộc, tôn giáo, chính trị, kinh tê (Kosovo, 18 Montenegro, Abkhazia và Nam Ossetia, Nam Sudan,.) Sự phát triển mạnh mẽ của các phong trào này đã dẫn tới những e ngại về hòa bình, an ninh và trật tự thé giới von đã bat ôn kề từ sau Chiến tranh Lạnh. Cùng với chủ nghĩa ly khai, các phong trào khủng bé đầu thé kỷ XXI cũng gây ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình thế giới. Vụ khủng bố vào tòa tháp đôi tại Newyork (Mỹ) ngày 11/9/2001 là ngòi nỗ dé các phong trào cực đoan trên thé giới phát triển cả về số lượng và mức độ hoạt động.
Tại khu vực Trung Đông, châu Phi, Nam Á, Đông Nam Á (miền nam Thái Lan, Philipines), các phong trào khủng bố diễn ra với mức độ dày đặc. Thống kê cho thấy năm 2007 có hàng ngàn vụ khủng bố diễn ra, đa phần là các hình thức đánh bom liều chết, ám sát, bắt cóc con tin. Riêng tại Pakistan, năm 2007 có tới hàng trăm vụ khủng bộ bằng đánh bom liều chết do các phần tử Hồi giáo cực đoan gây ra [138]. Tại các quốc gia châu Âu, hoạt động khủng bố mang tính tự phát hoặc có tổ chức gây ra ám ảnh và sự lo sợ cho người dân.
Tình hình khu vực Thế kỷ XXI chứng kiến sự chuyển mình của khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Bat chấp những hạn chế còn tồn đọng của khủng hoảng châu A 1997 và dau hiệu của một cuộc khủng hoảng kinh tế mới, châu Á - Thái Bình Dương vẫn có tốc độ tăng trưởng hàng đầu và năng động nhất trên thế giới. Các hoạt động hợp tác và liên kết kinh tế trong nội bộ khu vực và bên ngoài đạt nhiều kết quả ấn tượng. Chỉ riêng Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) đã chiếm 50% tỷ trọng thương mai và 60% GDP toàn cầu [58, tr.74] Ngoài ra, liên kết nội khối, đặc biệt là tại các tiểu vùng, vùng, tiểu khu vực cũng được các quốc gia châu A - Thái Bình Dương chú trọng.
Trong đó, ASEAN là điển hình khi các hoạt động giao lưu, hợp tác đạt nhiều kết quả tích cực, thu hút sự quan tâm từ các nước lớn. ASEAN có một vi trí quan trọng hon trong chính sách đối ngoại của các nước lớn. Đặc biệt, khu vực châu A - Thái Bình Dương còn sở hữu biên Đông là tuyến đường hàng hải huyết mạch, kết nối trực tiếp giữa Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, Châu Âu - Châu Á, Trung Đông - Châu A, “hơn 90% lượng vận tai thương 19 mại của thế giới thực hiện bằng đường biển và 45% trong số đó phải đi qua vùng Biển Đồng.” [103] Riêng với Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và cả Trung Quốc, biển Đông được coi là yếu tố sống còn của nền kinh tế đất nước. Day là tuyến hàng hải thiết yếu dé vận chuyên dầu và các nguồn tài nguyên thương mai từ Trung cận Đông và Đông Nam Á tới Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc.
Hoạt động thương mại sôi nổi đã đưa biển Đông và khu vực châu A - Thái Bình Dương trở thành một phan của thé giới nhiều hơn là khu vực. Kết hợp các yếu tố đã đưa châu Á - Thái Bình Dương trở thành tâm điểm mới của bàn cờ chính trị thế giới trong những năm đầu của thế kỷ XXI. Sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc và van đề Campuchia được giải quyết, môi trường hòa bình, ồn định dần được thiết lập trở lại trong khu vực Đông Nam A. Tình trạng đối dau giữa ba nước Đông Dương va 6 nước ASEAN cũ kết thúc dan chuyển minh theo xu thế hợp tác chung của thế giới.
Bối cảnh này giúp cho các quốc gia Đông Nam A có môi trường hòa bình, ổn định và những mục tiêu chung dé phát triển kinh tế - xã hội, đưa Đông Nam A trở thành một trong những khu vực phát triển năng động nhất trên thế giới. Nhiều quốc gia trong Đông Nam Á được đánh giá có tiềm năng tăng trưởng cao, với tỷ lệ tăng trưởng GDP ấn tượng qua từng năm. Trong số này, ngoại trừ Singapore đã được đánh giá là con rồng của kinh tế châu Á thì một số quốc gia như: Indonesia, Thái Lan, Malaysia, Philipines và cả Việt Nam cũng được đánh giá là con hỗ mới của kinh tế châu A. Ngoài ra, những yếu tố khác như tài nguyên thiên nhiên phong phú, dân số đông và trẻ, các yếu tô về địa lý khác đã đưa Đông Nam Á thực sự trở thành tâm điểm của tranh chấp, cạnh tranh chiến lược và ảnh hưởng của các cường quốc trên thé giới.
Sự thoái lui của Mỹ và Nga khỏi khu vực biển Đông, Châu Á - Thái Bình Dương sau chiến tranh lạnh đã “tao nên một “khoảng trồng quyên lực” ở Đông Nam A - một khu vực giàu tiềm năng và có vị trí chiến lược rất quan trọng vẻ chính trị, kinh tế, giao thông quốc tế, quân sự của thé giới. 60] Cơ hội thuận lợi này kết hợp với những chính sách phát triển đúng đắn của tang lớp lãnh đạo đã giúp Trung Quốc vươn lên trở thành cường quốc mới nồi ngay trong những năm đầu thế kỷ XXI. Nếu như năm 20 1978, GDP của Trung Quốc mới chỉ chiếm 1% của thế giới thì đến năm 2005, GPD của Trung Quốc đã đạt 1.981 tỷ USD, chiếm 4% của thế giới và vươn lên xếp ở vị trí thứ 6. Ngoài ra, ngoại thương của Trung Quốc cũng tăng trưởng ấn tượng dé đứng thứ 3 trên thế giới, xếp sau Mỹ và Nhật Bản.
Dự trữ ngoại tệ của quốc gia này cũng đứng thứ 2 thế giới chỉ sau Nhật Bản.