chương I sẽ là cơ sở pháp lý cho nội dung phân tích cụ thê mối quan hệ giữa hai quyền này trong bối cảnh đại dịch Covid- 19 ở chương 2. Những van đề lý luận cơ bản về sáng chế 1. Khái niệm sáng ché Sáng chế là một trong những đối tượng quan trọng của sở hữu trí tuệ (SHTT) và có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc thúc đây sự phát triển của xã hội. 10 Theo Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới, “Sáng chế là sản phẩm mới hoặc quy trình nham giải quyết một vấn dé kỹ thuật ”.
Theo quy định tại khoản 12 điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đôi bổ sung năm 2009 và 2019, “Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một van dé xác định bang việc ứng dụng các quy luật tự nhiên”. Từ các định nghĩa trên, có thể thấy được bản chất của sáng chế là giải pháp kỹ thuật, hay nói cách khác là biện pháp kỹ thuật nhằm giải quyết một vẫn đề xác định. Giải pháp kỹ thuật này phải do con người tạo ra nhờ việc sử dụng các quy luật tự nhiên, chứ không phải là những gì đã ton tại sẵn trong tự nhiên và được con người phát hiện ra. Đây chính là điểm khác biệt rõ rệt nhất giữa “sáng chế” và “phát minh”.
Phát minh là việc con người phát hiện ra một sự vật, hiện tượng hoặc quy luật khách quan của thế giới tự nhiên (vi dụ: Issac Newston phát hiện ra trọng lực) và con người theo chủ đích của minh sẽ tạo ra các sáng chế từ những phát minh đó. Sáng chế hoặc là do con người tạo ra từ những gì không sẵn có trong tự nhiên, hoặc từ những gì đã có trong tự nhiên, con người theo mục đích của mình sẽ tác động vào dé biến đồi, cải tiến dé tạo ra cái mới. Sáng chế thường được thể hiện dưới hai dạng là sản phâm hoặc quy trình, phương pháp tạo ra sản phẩm. Các sản phẩm và quy trình tạo ra sản phẩm đó có những đặc điểm, chức năng mới, sáng tạo, khác biệt so với các sản phẩm, quy trình đã biết.
Tuy nhiên, pháp luật cũng đặt ra quy định về các đối tượng không được bảo hộ sáng chế. Khoản 2, khoản 3 điều 27 Hiệp định TRIPS cũng đã có quy định: 11 2. Các Thành viên có thể loại trừ không cấp bằng sáng chế cho những sáng chế cân phải bị cắm khai thác nhằm mục đích thương mại trong lãnh thổ của mình dé bảo vệ trật tự công cộng hoặc đạo đức xã hội, kể cả để bảo vệ cuộc sống và sức khoẻ của con người và động vật hoặc thực vật hoặc dé tránh gây nguy hại nghiêm trọng cho môi trường, với điều kiện những ngoại lệ đó được quy định không chỉ vì lý do duy nhất là việc khai thác các sáng chế tương ứng bị pháp luật của nước đó ngăn cam. Cac Thanh vién cting co thể loại trừ không cấp patent cho: a) các phương pháp chẩn đoán bệnh, các phương pháp nội và ngoại khoa đề chữa bệnh cho người và động vật; b) thực vật và động vật không phải là các chung vi sinh, và các quy trình sản xuất thực vật và động vật, chủ yếu mang tính chất sinh học và không phải là các quy trình phi sinh học hoặc vi sinh.
Tuy nhiên, các Thành viên phải bảo hộ giống cây bằng hệ thống bằng sáng chế hoặc bằng một hệ thống riêng hữu hiệu, hoặc bằng sự kết hợp giữa hai hệ thong đó dưới bat kỳ hình thức nào. Các quy định của điểm này phải được xem xét lại sau 4 năm kể từ khi Hiệp định WTO bat dau có hiệu luc.” Sáng chế nói riêng và quyền Sở hữu trí tuệ nói chung có ý nghĩa hết sức to lớn, tác động mạnh mẽ tới sự phát triển khoa học — công nghệ, song hành với sự phát triển kinh tế - xã hội. Trong xã hội hiện đại, “động lực mới tạo ra sự thịnh vượng trong xã hội đương thoi là tài sản dựa trên tri thức”.[13] Trong các tài sản trí tuệ, sáng chế có vai trò đặc biệt quan trọng bởi giá trị thương mại rất lớn. Thông qua quá trình khai thác sáng chế, bao gồm việc sử dụng, chuyền giao quyên sở hữu, chuyền quyền sử dụng sáng chế, chuyên giao công nghệ, góp vốn kinh doanh và các giao dịch sinh lợi khác, doanh nghiệp có khả năng tăng cường tài sản và nâng cao giá trị cạnh tranh.
Sáng chế cũng được coi là một trong những yếu tố để xác định tiềm lực khoa học — công nghệ của một 12 quốc gia cũng như xác định tính cạnh tranh của nên kinh tế. Sự phát triển của một quốc gia tỉ lệ thuận vào sự phát triển của việc nghiên cứu, đăng ký và bảo hộ tại quốc gia đó. Chính vi lý do đó, các doanh nghiệp, cao hơn là các quốc gia và cộng đồng quốc tế đã dành chi phí không nhỏ dé đầu tư cho hoạt động sáng tạo cũng như xây dựng cơ chế bảo hộ sáng chế quy củ, chặt chẽ. Khai niệm quyền sáng chế Quyền sáng chế là một trong những quyền sở hữu trí tuệ, theo đó Nha nước cấp quyền độc quyền đối với sáng chế cho tác giả/bên sở hữu sáng chế, tạo cơ sở pháp lý để ngăn cản bên thứ ba chế tạo, sử dụng, chào bán hoặc bán các phát minh của họ.
Thậm chí, một sé quốc gia còn cấp cho tác giả/chủ sở hữu sáng chế quyền cắm “nhập khâu” sáng chế. Quyền sáng chế tồn tại trong một khoảng thời gian giới hạn. Thời hạn tối thiểu được quy định trong Hiệp định TRIPS là hai mươi năm. Đề đổi lại việc cấp các quyền đối với bằng sáng chế, người nộp đơn xin cấp bằng sáng chế phải bộc lộ sáng chế theo cách cho phép những người khác có thé đưa sáng chế đó vào thực tế.
Và dé được cấp văn bang bảo hộ - cơ sở dé xác lập quyền sáng chế, sáng chế đó phải đáp ứng “tính mới” (các đặc điểm mới không phải là “tình trạng kỹ thuật tiên tiến”), “tính sáng tạo” (một trình độ sáng tạo không rõ ràng đối với một người có kỹ năng trong lĩnh vực này), và “khả năng áp dụng công nghiệp”. Dưới góc độ nhân quyền, quyền sáng chế là quyền thuộc quyền được tham gia vào đời sống văn hoá và được hưởng các thành tựu của khoa học. Quyền nay được đề cập lần đầu tiên tại Điều 27 UDHR (1. Ai cũng có quyển tự do tham gia vào đời sống văn hoá của cộng dong, thưởng ngoạn nghệ thuật, được hưởng các tiến bộ khoa học và lợi ích của những tiến bộ áy.
Ai cũng được bảo vệ bởi những quyền lợi tinh than và vật chất phát sinh từ những sản phẩm khoa học, văn học hay nghệ thuật của mình) và được cụ thể hoá tại điều 15 ICESCR (1. Các quốc gia thành viên Công ước thừa nhận mọi người đều 13 có quyên:/a. Được tham gia vào đời sống văn hoá;/b. Được hưởng các lợi ích của tiến bộ khoa học và các ứng dụng của no,/c.
Được bảo hộ các quyền loi tinh than va vat chat phat sinh tir bat ky sang tạo khoa học, van học nghệ thuật nào của minh. Các biện pháp mà các quốc gia thành viên Công ước sẽ tiễn hành nhằm thực hiện day đủ quyển này phải bao gồm các biện pháp can thiết để bảo tôn, phát triển và phổ biến khoa học và văn hoá. Các thành viên Công ước cam kết tôn trọng quyên tự do không thể thiếu được đối với nghiên cứu khoa học và các hoạt động sáng tao). Theo đó, tất cả mọi người đều được bảo vệ những lợi ích phát sinh từ những sản phẩm khoa học, văn học va nghệ thuật của mình nói chung, sáng chế nói riêng.
Việc bảo vệ những lợi ích vật chất và tinh than đó là một phan của các quyền cơ bản của con người. Bình luận chung số 17 của CESCR khang định, quyền được bảo hộ các lợi ích tinh thần và vật chất phát sinh từ hoạt động trí tuệ là một quyền con người, phát sinh từ giá tri và nhân phẩm của con người nói chung. Trên có sở đó, hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ cũng hướng tới việc bảo vệ các quyền của chủ sở hữu quyền SHTT nói chung và quyền sáng chế nói riêng, khuyến khích sự sáng tạo. Tuy nhiên, CESCR cũng giải thích rằng không phải tất cả các thuộc tính của quyền sở hữu trí tuệ đều thuộc quyền con người.[14] Bình luận chung số 17 của CESCR đã chỉ rõ: “Quyền con người là các quyên cơ bản vì gan liên với bản chất con người theo đúng nghĩa, trong khi đó quyén sở hữu trí tuệ là phương tiện dau tiên và trên hết được nhà nước bảo vệ dé khuyến khích sáng chế và khả năng sáng tao, khuyến khích việc phổ biến các sản phẩm phát minh và sáng chế cũng như phát triển các bản sắc văn hoá, và giữ gìn sự toàn vẹn các sản phẩm khoa học, văn học và nghệ thuật vì lợi ích xã hội.
Trái lại với quyên con người, quyên sở hữu trí tuệ nhìn chung có tính tạm thời và có thể bị huỷ bỏ, cấp phép hoặc trao cho một người nào đó. Trong 14 da số hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ, quyền SỞ hữu trí tuệ, trừ các ngoại lệ quyên về tinh thân, có thể bị giới hạn về thời gian và phạm vi, và có thé trao đối, sửa chữa, thậm chí bị tước bỏ; trong khi đó, quyên con người là cdc quyên cơ bản, vô hạn về thời gian. ” Theo đó, điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ cũng như pháp luật các quốc gia sẽ đặt ra những quy định thúc đây chuyên giao và phổ biến công nghệ, tạo sự cân bằng giữa quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu và người sử dụng, mang lại lợi ích chung cho cộng đồng. Đồng thời, trong những trường hợp được pháp luật quy định, nhằm bảo đảm mục tiêu quốc phòng, an ninh, dân sinh và các lợi ích khác của Nhà nước, xã hội, Nhà nước cũng có quyền cam hoặc hạn chế người năm độc quyền sử dụng sáng chế thực hiện quyền của mình hoặc bắt buộc người nắm độc quyên sáng chế chuyền giao quyền sử dụng sáng chế cho chủ thé khác.
Khái niệm bảo hộ sáng chế Hiệp định TRIPS cũng như pháp luật của hầu hết các quốc gia đều không đưa ra khái niệm cụ thê về “Bảo hộ sáng chế”.