CHƯƠNG 1. NHỮNG NHÂN TỐ CHI PHỐI QUAN HỆ ẤN ĐỘ - ASEAN TRONG THẬP NIÊN ĐẦU CỦA THẾ KỈ XXI 1. Nhân tố từ tình hình thế giới 1. Xu hướng toàn cầu hóa, tự do hóa.
Trong nhiều thập kỷ qua, sự đối đầu giữa 2 hệ thống kinh tế xã hội đã đưa nền kinh tế thế giới tới những nguy cơ to lớn chưa thể lường hết được, trái với xu thế khách quan quốc tế hoá đang phát triển. Ngay trong thời kỳ chiến tranh lạnh và đối đầu gay gắt, các quan hệ kinh tế Đông –Tây vẫn tồn tại bất chấp ý chí của các chính phủ. Trong những điều kiện mới hiện nay, kinh tế các nước vừa phát triển vừa tăng cường liên kết. Mỗi nước không chỉ tăng cường tiềm lực kinh tế của mình, mà còn mở rộng buôn bán với các nước khác.
Ngày nay, trừ Cộng hòa Dân chủ Nhân Dân Triều Tiên, các nước trên thế giới đều được liên kết với nhau và trở thành bộ phận của thị trường toàn cầu. Thậm chí, cả Cuba do Đảng Cộng Sản cầm quyền, cũng coi đầu tư nước ngoài có vai trò quan trọng nhất định trong nền kinh tế. Trong tình hình mới hiện nay, các nước có nền kinh tế phát triển muốn mở rộng thị trường, nguồn vốn đầu tư, địa bàn chuyển nhượng những kỹ thuật truyền thống và hình thành phân công lao động quốc tế thì phải mở rộng những quan hệ quốc tế cùng có lợi. Đây chính là một phương hướng mới của các quan hệ kinh tế quốc tế, tạo ra cơ hội để các quốc gia có điều kiện có thể mở rộng các quan hệ phụ thuộc vào nhau.
Không thể phát triển kinh tế bằng cách xây dựng một nền kinh tế khép kín, tự cô lập trong một nước, thậm chí một nhóm nước. Xu hướng liên kết toàn thế giới thành một thị trường thống nhất đang được đẩy mạnh hơn. Nó phản ánh quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế hiện nay. Với việc thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), hầu như tất cả các nền kinh tế của thế giới có khả năng thiết lập ngày càng nhiều mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau.
Trong những năm 1980, nền kinh tế thế giới đã được đặc trưng bởi thương mại giữa các khối kinh tế lớn, kể từ khi thương mại quốc tế giữa những năm 90 đã có xu hướng phát triển theo hướng toàn cầu hóa đến giai đoạn một nơi mà nó là khả thi để thụ thai thương mại mà không có biên giới trong tương lai không xa. Vào đầu thế kỷ XXI chúng ta chứng kiến sự nổi lên của một nền kinh tế mới: Cả thế giới như một thị trường toàn cầu! 16 luan an Toàn cầu hoá có nghĩa là dòng chảy của hàng hóa, dịch vụ, vốn, công nghệ và con người đang lan rộng trên toàn thế giới, như các quốc gia ở khắp mọi nơi mở rộng liên hệ với nhau. Một yếu tố cốt lõi của toàn cầu hóa là sự mở rộng của thương mại thế giới thông qua việc loại bỏ hoặc giảm các rào cản thương mại, chẳng hạn như thuế nhập khẩu. Toàn cầu hóa vừa mang lại thời cơ vừa mang lại những thách thức cho sự phát triển của mỗi quốc gia.
Những nước càng kém phát triển càng phải đối mặt với nhiều thách thức gay gắt hơn là thời cơ. Phạm vi quan hệ càng xa, càng khó điều hòa lợi ích chung với lợi ích riêng của từng quốc gia. Bởi vậy, lẽ tự nhiên, mỗi quốc gia trước hết phải tìm những đối tác thích hợp, không quá chênh lệch về trình độ phát triển, gần gũi về địa lý, có quan hệ truyền thống, có những lợi ích chung không những về kinh tế mà cả về văn hóa, quốc phòng, an ninh. Đó là phương cách tốt nhất để tìm kiếm hợp lực nhằm gia tăng trọng lượng trong tiếng nói của mỗi quốc gia trên trường quốc tế, tranh thủ ngoại lực để phát huy nội lực, từng bước tham gia ngày càng sâu, rộng vào liên kết kinh tế quốc tế.
Đặc trưng cơ bản của toàn cầu hóa nền kinh tế là tự do hóa việc di chuyển hàng hóa, dịch vụ, lao động và tư bản trên phạm vi toàn cầu. Tự do hóa, một mặt, mở rộng không gian hoạt động cho mỗi nền kinh tế dân tộc, tận dụng được hiệu quả kinh tế nhờ quy mô, tìm nơi đầu tư có lợi. Nhưng mặt khác, hàng hóa và tư bản của nước ngoài thâm nhập thị trường dân tộc làm cho các doanh nghiệp và các ngành kinh tế trong nước yếu kém sẽ chịu nhiều thua thiệt, thậm chí bị phá sản. Cho nên, các nước đang phát triển có sức cạnh tranh về nhiều mặt còn yếu, không thể tự do hóa nhanh, nên phải tùy theo hoàn cảnh cụ thể, tùy theo năng lực trong nước mà lựa chọn phạm vi, mức độ và lộ trình tự do hóa thích hợp.
Tham gia các tổ chức kinh tế khu vực chính là giải pháp tốt để mở rộng dần tự do hóa phù hợp với sức chịu đựng của nền kinh tế dân tộc. Sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học công nghệ. Từ đầu thập kỉ 90, Chiến tranh lạnh kết thúc, tình hình thế giới đã thay đổi căn bản. Trật tự thế giới cũ hai cực đã tan rã, trật tự thế giới mới đang hình thành theo hướng đa cực, đa trung tâm.
Xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển thay thế cho xu thế đối đầu. Cách mạng khoa học công nghệ phát triển mạnh, đặc biệt là cách mạng thông tin bùng nổ đã có những tác động mạnh mẽ đến quan hệ quốc 17 luan an tế. Cuộc cách mạng này đã làm giảm chi phí viễn thông cũng như vận tải, xóa đi khoảng cách trong hoạt động kinh tế. "Trong thời kì 1930 - 1996, chi phí gọi điện thoại một cuộc 3 phút từ New York đi Luân Đôn đã giảm từ 300 USD ( giá năm 1996) xuống còn 1 USD" [15; tr16].
Chi phí điện thoại, điện tín và vận tải giảm mạnh đã cho phép có sự liên kết chặt chẽ hơn giữa các thị trường, nhà sản xuất, nhà cung ứng và người tiêu dùng. Các hoạt động kinh doanh, bao gồm hoạt động mua bán và dịch vụ cũng như các giao dịch tài chính khác, có thể được thực hiện từ xa thông qua mạng lưới viễn thông. Điều này còn được tiến hành thuận lợi hơn nữa thông qua Internet và các công nghệ hiện đại khác. Kết quả là việc mua bán thông qua điện thoại và hệ thống Internet, hội thảo qua điện thoại, giáo dục từ xa qua băng hình và trên vô tuyến truyền hình, và thậm chí, cả làm việc qua điện thoại đã trở thành các hoạt động phổ biến, đem lại hiệu quả về chi phí.
Điều này làm cho quá trình hội nhập khu vực và hội nhập toàn cầu phát triển nhanh và trở thành xu thế không thể đảo ngược. Tình hình đó đặt tất cả các nước dù lớn hay nhỏ trước những cơ hội mới và thách thức mới. Hơn nữa, sự diễn ra nhanh chóng và sâu rộng trên phạm vi toàn cầu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã làm thay đổi cục diện chính trị thế giới, chuyển cuộc đấu tranh về chính trị và quân sự sang cuộc chạy đua để giành ưu thế về kinh tế, khoa học kỹ thuật và công nghệ giữa các nước và các trung tâm. Trước tình hình đó, Ấn Độ phải điều chỉnh chính sách, đặc biệt trên lĩnh vực kinh tế.
Tháng 7/1991, Ấn Độ đã bắt đầu tiến hành cải cách kinh tế một cách toàn diện và triệt để, nhằm điều chỉnh các chính sách kinh tế vĩ mô và điều chỉnh cơ cấu kinh tế, chuyển từ một nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp và đóng cửa sang một nền kinh tế thị trường, tự do hóa và mở cửa, phát triển năng động, nâng cao khả năng cạnh tranh, từng bước hội nhập khu vực và hội nhập quốc tế. Sự nổi lên của Trung Quốc với chiến lược vươn ra biển Đông Sự nổi lên của Trung Quốc cũng là một nhân tố được tính đến khiến cho Ấn Độ và các nước Đông Nam Á xích lại gần nhau hơn. Năm 1978, GDP của Trung Quốc lục địa mới chỉ chiếm có khoảng 1% của thế giới nhưng đến 2005 tăng lên 4%, vượt I-ta-li-a, đứng vị trí thứ 6 với 1. Về ngoại thương, Trung Quốc đứng hàng thứ 3 trên thế giới (sau Mỹ và Nhật Bản); dự trữ ngoại tệ lớn thứ hai, sau Nhật Bản.
Điều gây ấn tượng là đầu tư của Trung Quốc ra nước 18 luan an ngoài trên khắp các châu lục trong thời gian gần đây tăng rất nhanh, với nhiều dự án lớn đạt hàng tỉ USD. Tổng sản phẩm quốc dân tăng trung bình hàng năm là 9%, một trong những chỉ số nhanh nhất thế giới. Theo dự đoán, đến năm 2025, Trung Quốc sẽ vượt Mỹ trở thành nước có GDP cao nhất thế giới. Còn theo báo cáo của tổ chức Goldman Sách cho rằng Ấn Độ và Trung Quốc sẽ nằm trong số 6 nền kinh tế lớn nhất thế giới vào năm 2050.
Về khía cạnh chính trị - ngoại giao, thời gian gần đây, Trung Quốc không chỉ chấp nhận toàn cầu hóa kinh tế, mà còn chủ động hội nhập quốc tế trên tất cả các bình diện, nhất là trong hợp tác với các nước ASEAN. Ngoài hai lĩnh vực chính trên, sự trỗi dậy của Trung Quốc còn được thể hiện ở sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ. Điển hình là Trung Quốc đã thực hiện thành công phóng tàu vũ trụ "Thần Châu 6", đưa người vào vũ trụ lần thứ hai, trở thành cường quốc chinh phục vũ trụ thứ 3 trên thế giới, sau Nga và Mỹ. Sự lớn mạnh của Trung Quốc làm cộng đồng thế giới có thể hy vọng về một thế giới tốt đẹp hơn nhưng đồng thời cũng phải đối phó với những thách thức không nhỏ của một đất nước đang vươn rộng ra ngoài, đòi hỏi có không gian chiến lược cho sự phát triển của mình.
Không những phát triển rất nhanh về kinh tế, Trung Quốc cũng đang gấp rút hiện đại hóa lực lượng quốc phòng, từ 1988 đến năm 1995, chi phí quân sự của Trung Quốc đã tăng gấp ba lần, trong đó ưu tiên cho lực lượng hải quân và không quân. Gần đây, Trung Quốc lại có những hành động được xem là " thiếu thân thiện" với Ấn Độ. Từ biên giới Trung Quốc đang có tranh chấp trong vùng Himalaya đến Casơmia và sự trợ giúp của Trung Quốc cho Pakixtan. Ngày 7/9/2010, Thủ tướng Ấn Độ, Manmohan Singh, đã phải lên tiếng là " Trung Quốc muốn đặt chân vào Nam Á.
Trung Quốc muốn kiềm chế Ấn Độ ở vị trí một quốc gia phát triển giới hạn.