Mở đầu Trang 1.Tính cấp thiết của đề tài 4 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 6 4.
Phương pháp nghiên cứu 6 5. Những đóng góp mới của luận văn 7 6. Kết cấu của luận văn 7 Chƣơng 1. Nhân tố thúc đẩy sự hình thành và phát triển 8 KCN ở Hà Nội.Hiểu biết chung về KCN.Định nghĩa KCN 8 1.
Các dạng thức KCN 10 1.2 Nhân tố thúc đẩy sự hình thành và phát triển KCN 14 1.1 Nhân tố bên ngoài 14 1.2 Nhân tố bên trong 21 Chƣơng 2. Quá trình hình thành và phát triển KCN ở Hà Nội 37 (1995-2008) 2.1 Quá trình hình thành và phát triển KCN ở Hà Nội 37 (1995-2008).1 Điều kiện hình thành KCN.2 Sự xuất hiện KCN ở Hà Nội.3 Sự phát triển các KCN ở Hà Nội.3 Những tác động tích cực của KCN đến kinh tế, xã hội 66 của Hà Nội. Một số vấn đề đặt ra và kiến nghị giải pháp trong việc 81 phát triển bền vững KCN trên địa bàn Hà Nội.1 Một số vấn đề đặt ra 81 3.2 Kiến nghị giải pháp trong việc phát triển bền vững 92 KCN trên địa bàn Hà Nội.1 Các tiêu chí đánh giá phát triển bền vững nội tại của KCN 92 3.2 Giải pháp phát triển bền vững về kinh tế 95 3.3 Giải pháp phát triển bền vững về xã hội 105 3.4 Giải pháp phát triển bền vững về môi trường 108 Kết luận 113 Tài liệu tham khảo 117 Phụ lục 125 2 z DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT CNH Công nghiệp hóa CCN Cụm công nghiệp GDP Tổng sản phẩm quốc nội FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài HĐH Hiện đại hóa KCN Khu công nghiệp KCX Khu chế xuất KCNC Khu công nghệ cao KKT Khu kinh tế UNIDO United Nations Industrial Development Organization Tổ chức phát triển công nghiệp Liên Hợp Quốc. Tính cấp thiết của đề tài.
Cùng với chính sách mở cửa, chủ động tham gia hội nhập kinh tế, từng bước đưa đất nước phát triển theo mục tiêu CNH, HĐH đất nước, thì việc xây dựng và phát triển các KCN đóng một vai trò vô cùng quan trọng, đặc biệt là ở Hà Nội – Thủ đô của cả nước. Kể từ khi Luật đầu tư ra đời năm 1987 cho đến nay, mặc dù thời gian phát triển chưa lâu nhưng các KCN ở Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung đã khẳng định được vai trò của mình là một lực lượng công nghiệp mạnh, có đóng góp ngày càng to lớn trong công cuộc phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Việc xây dựng và phát triển các KCN là một trong những quyết sách trọng yếu đã được Đại hội lần thứ VIII năm 1996 của Đảng Cộng sản Việt Nam xác định “hình thành các KCN tập trung (bao gồm cả KCN, KCX), tạo địa bàn thuận lợi cho việc xây dựng các cơ sở công nghiệp mới, phát triển đẩy mạnh công nghiệp nông thôn và ven đô thị. Ở các thành phố, thị xã, nâng cấp cải tạo các cơ sở công nghiệp hiện có, đưa các cơ sở không có khả năng xử lý ô nhiễm ra ngoài thành phố, hạn chế việc xây dựng các cơ sở công nghiệp mới xen lẫn với khu dân cư”.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII cũng chỉ rõ phương hướng phát triển KCN trong thời gian tới là “Phát triển từng bước và nâng cao hiệu quả các KCN”. Bởi vậy mà trong thời gian qua, mỗi KCN ra đời tại Hà Nội đã trở thành điểm quan trọng trong việc thu hút nguồn vốn đầu tư trong nước và nước ngoài, tạo điều kiện để tiếp thu công nghệ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân công lao động cho phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế - xã hội Thủ đô và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. 4 z Phát triển KCN trong thời gian qua ở Hà Nội nói riêng và trên toàn đất nước nói chung cũng đã góp phần làm chuyển biến tình hình kinh tế - xã hội. Để phát huy hơn nữa vai trò của KCN đối với sự phát triển kinh tế xã hội của Thủ đô, để thấy được tầm quan trọng của KCN, nhận thức được điều đó, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Quá trình hình thành và phát triển KCN ở Hà Nội (1995-2008)” làm đề tài nghiên cứu.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề KCN và chính sách KCN Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đã được nghiên cứu ngay từ những năm đầu của thời kỳ này. Năm 1987, nhà nước ban hành Luật đầu tư nước ngoài, đó cũng là lúc một số tổ chức được giao nhiệm vụ nghiên cứu xây dựng và đưa vào hoạt động loại hình KCN tại Việt Nam. Gần đây, đã có một số sách, luận án và đề tài nghiên cứu liên quan về vấn đề này, nhưng mới chỉ đề cập đến một vài khía cạnh, và sơ qua một cách khái quát sự hình thành và phát triển KCN trong cả nước. Như LA TS Kinh tế của Nguyễn Quốc Bình, “Một số giải pháp nhằm phát triển các khu công nghiệp và cụm công nghiệp trên địa bàn Hà Nội trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”.
Luận án PTS KH của Chế Đình Hoàng, “Cải tạo và hoàn thiện các khu công nghiệp ở Hà Nội theo định hướng phát triển đó đến năm 2010”… PGS.TS Ngô Thắng Lợi và nhóm nghiên cứu “Vấn đề phát triển bền vững các KCN ở Việt Nam” – Tạp chí KCN Việt Nam, số tháng 2/2007. Nhóm nghiên cứu đã đưa ra chủ kiến của mình tại công trình này, trong đó nhận xét về tình trạng mở ồ ạt quá nhiều KCN tại những địa bàn chưa được chuẩn bị kỹ, trình bày một số khuyến nghị về quy hoạch, kế hoạch, đầu tư… để phát triển bền vững các KCN. Đặng Hùng: “Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất trong KCN” – Tạp chí Bất động sản nhà đất Việt Nam, số 32, tháng 5/2006. 5 z So với các địa phương khác, các nhà khoa học Hà Nội có nhiều công trình nghiên cứu về KCN.
Từ năm 1999 – 2007, các công trình tập trung nghiên cứu vào mấy chủ đề: thứ nhất, vấn đề thu hút FDI, các doanh nghiệp vừa và nhỏ vào KCN. Thứ hai, vấn đề nâng cao chất lượng các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh; và vấn đề quản lý nhà nước và chất lượng dịch vụ công. Tuy nhiên chưa có đề tài nào tiếp cận trên phương diện lịch sử về quá trình hình thành và phát triển các KCN ở Hà Nội (1995-2008). Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
Mục đích: Nghiên cứu về quá trình hình thành và phát triển KCN ở Hà Nội từ năm 1995 đến năm 2008. Nhiệm vụ nghiên cứu: Trình bày các nhân tố thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển các KCN. Quá trình hình thành và phát triển KCN ở Hà Nội từ 1995 – 2008. Những vấn đề đặt ra và kiến nghị trong việc phát triển phát triển bền vững KCN trên địa bàn Hà Nội.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu về quá trình hình thành và phát triển của KCN từ năm 1995 đến năm 2008. Các vấn đề đặt ra trong việc phát triển KCN trên địa bàn Hà Nội. Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của Luận văn giới hạn trong các KCN ở Hà Nội từ năm 1995 – 2008. Phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn Áp dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phân tích tổng hợp, so sánh đối chiếu, phương pháp lịch sử và phương pháp thống kê.
6 z Luận văn cũng sử dụng các phương pháp điều tra, khảo sát thực tế, thu thập tài liệu. Những đóng góp mới của luận văn Hệ thống hóa quá trình hình thành và phát triển KCN ở Hà Nội trên phương diện lịch sử. Các vấn đề đặt ra trong việc phát triển KCN trên địa bàn Hà Nội. Kết cấu của luận văn: Luận văn bao gồm 3 chương.
Chƣơng 1: Nhân tố thúc đẩy sự hình thành và phát triển KCN ở Hà Nội. Chƣơng 2: Quá trình hình thành và phát triển KCN ở Hà Nội (1995-2008) Chƣơng 3: Một số vấn đề đặt ra và kiến nghị giải pháp trong việc phát triển bền vững KCN trên địa bàn Hà Nội. NHÂN TỐ THÚC ĐẨY SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KHU CÔNG NGHIỆP Ở HÀ NỘI.1 Hiểu biết chung về KCN 1.1 Định nghĩa KCN Ở mỗi nước trên thế giới, do điều kiện kinh tế - xã hội và trình độ phát triển nền sản xuất công nghiệp là khác nhau nên dẫn đến sự khác biệt về mục đích hình thành cũng như chức năng, nhiệm vụ của KCN ở mỗi nước, từ đó dẫn đến những quan điểm, cách hiểu khác nhau về KCN. Để việc nhìn nhận khái quát và đầy đủ, luận án đưa ra những khái niệm về KCN của các tổ chức kinh tế quốc tế, ở các nước phát triển và đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
Khái niệm về KCN của các tổ chức kinh tế quốc tế. Các chuyên gia của tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO) đưa ra khái niệm về KCN tổng hợp như sau: “KCN tổng hợp là khu vực chuyên sản xuất hàng hóa và thực hiện các hoạt động dịch vụ, kể cả dịch vụ sản xuất công nghiệp, dịch vụ sinh hoạt, vui chơi giải trí, khu thương mại, văn phòng, nhà ở… có ranh giới địa lý xác định, gồm những khu vực dành cho công nghiệp, các dịch vụ liên quan, thương mại và dân cư. Khu vực công nghiệp có thể là KCN, KCX, KCNC. Các khái niệm về KCN ở các nước công nghiệp phát triển Các nước công nghiệp phát triển quan niệm rằng, KCN được hình thành và phát triển nhằm mục đích cực đại hóa lợi nhuận và cực tiểu hóa chi phí, nói cách khác đó là sự lợi dụng quy luật kinh tế lợi ích nhờ quy mô.
Các nhà tư bản cho rằng, việc phân bố và hình thành công nghiệp phải tập trung vào một khu vực nhất định. Nói chung, KCN được họ hiểu là những khu vực được xây dựng và phân thành những phần nhỏ hơn theo một quy hoạch toàn diện nhằm cung cấp những điều kiện thuận lợi về giao thông vận tải, viễn 8 z thông, điện, nước và những dịch vụ khác…cho một nhóm các doanh nghiệp công nghiệp. Như vậy, các nhà hoạch định chính sách phương Tây không đưa ra nhiều khái niệm, định nghĩa về KCN có tính chất khoa học, mà họ định nghĩa về KCN gắn liền với những hình thái thực tiễn của tổ chức lãnh thổ sản xuất công nghiệp, nhấn mạnh nhiều đến tính hiệu quả kinh tế của quá trình hình thành một KCN.