CHƯƠNG 1 Từ cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản chuyển mình sang chủ nghĩa đế quốc, các nước đế quốc bên trong thì tăng cường bóc lột nhân dân lao động, bên ngoài xâm lược và áp bức nhân dân các nước thuộc địa. Đời sống nhân dân các nước trở nên cùng cực từ đó dẫn đến mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa thực dân. Trong suốt quá trình đó, Việt Nam đã trở thành tầm ngắm cho đế quốc Pháp xâm lược biến Việt Nam thành thuộc địa. Sau khi xâm lược và thôn tính toàn bộ nước ta, thực dân Pháp áp đặt chế độ cai trị chuyên chế, hà khắc và tàn bạo.
Từ đó, xã hội Việt Nam diễn ra sự phân hóa sâu sắc. Giai cấp nông dân và công nhân Việt Nam là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội Việt Nam bị thực dân và phong kiến bóc lột nặng nề. Tình cảnh đó làm tăng thêm lòng căm thù đế quốc và phong kiến tay sai, tăng thêm ý chí cách mạng của họ trong cuộc đấu tranh giành ruộng đất và quyền sống tự do. Trước sự áp bức bóc lột của thực dân pháp,nhiều đảng phái được thành lập và nhiều phong trào yêu nước của nhân dân ta chống Pháp đã diễn ra liên tục và sôi nổi nhưng đều không mang lại kết quả.
Nhận thấy được cuộc khủng hoảng trong đường lối giải phóng dân tộc của nước ta cũng như sự riêng lẻ, không thống nhất trong các phong trào cách mạng, Nguyễn Ái Quốc ra sức truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, chuẩn bị về lý luận cho Hội nghị thống nhất, Cương lĩnh chính trị đầu tiên, cũng như sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời với Cương lĩnh chính trị đầu tiên đã mở ra thời kì mới cho cách mạng Việt Nam - thời kì đấu tranh giành độc lập dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh đầu tiên của Đảng ra đời, đã xác định được những nội dung cơ bản nhất của con đường cách mạng Việt Nam; đáp ứng được những nhu cầu bức thiết của lịch sử và trở thành ngọn cờ tập hợp, đoàn kết thống nhất các tổ chức cộng sản, các lực lượng cách mạng và toàn thể dân tộc. Sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam là một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam.
Ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam 17 Downloaded by ANH BACH (bachvan15@gmail.com) lOMoARcPSD|39150642 đã thực sự trở thành người lãnh đạo, đưa cách mạng Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách. Điều này đã quyết định sự phát triển của dân tộc, chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối và tổ chức lãnh đạo của các phong trào yêu nước, cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ 20. Đường lối này chính là cơ sở cho sự tập hợp lực lượng, đoàn kết và thống nhất của toàn dân tộc, từ đó toàn dân có tư tưởng chung, hành động chung, cùng nhau tiến hành cuộc cách mạng vĩ đại và giành những thắng lợi to lớn sau này. CHƯƠNG 2 LUẬN CƯƠNG CHÍNH TRỊ VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG (1930 - 1939) 2.
Luận cương chính trị 2. Bối cảnh ra đời Luận cương chính trị Cương lĩnh chính trị đầu tiên được thông qua Hội nghị thành lập Đảng xác định nhiều nội dung quan trọng, phù hợp với đặc điểm Việt Nam lúc bấy giờ đó là cần phải nhanh chóng tiến hành chống thực dân Pháp và giành lại quyền độc lập cho dân tộc. Hơn hết Cương lĩnh chính trị đầu tiên cũng đã tạo nên một sự thống nhất chung về tư tưởng, chính trị và hành động của phong trào cách mạng cả nước hướng tới mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Mặc dù rất phù hợp với tình hình nước ta lúc bấy giờ, song Quốc tế Cộng sản lại không công nhận cương lĩnh 2/1930 bởi Quốc tế Cộng sản cho rằng vấn đề chống thực dân Pháp là vấn đề của toàn thể Đông Dương và hơn hết là bấy giờ họ chưa xem Việt Nam là một quốc gia chính thức mà chỉ mới xét chung ở khu vực Đông Dương nên cần phải có một luận cương mới để phù hợp và được QTCS chấp thuận.
Tháng 4/1930, đồng chí Trần Phú sau một thời gian dài học ở Liên Xô đã trở về nước để hoạt động. Đồng chí Trần Phú đã tham gia vào Ban Chấp hành Trung ương lâm thời và được phân công cùng Ban Thường vụ Trung ương chuẩn bị cho kỳ họp lần thứ nhất của Ban Chấp hành Trung ương và dự thảo bản Luận cương chính trị. Từ ngày 14 đến 31/10/1930, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ nhất tại Hương Cảng ( Trung Quốc). Hội nghị thông qua Luận cương chính trị, quyết định đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương đồng 18 Downloaded by ANH BACH (bachvan15@gmail.com) lOMoARcPSD|39150642 thời Hội nghị cũng đã thông qua Luận Cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương.
Nội dung của Luận cương chính trị Luận cương đã phân tích tình hình thế giới, thời kỳ tạm ổn của chủ nghĩa Tư bản (1923-1928) đã chấm dứt. Đặc điểm của thời kỳ mới là chủ nghĩa tư bản lâm vào cuộc tổng khủng hoảng, cách mạng vô sản và cách mạng thuộc địa đã lên đến trình độ cao. Xu thế quốc tế trên đây cho phép cách mạng Đông Dương có khả năng phát triển mở rộng mặt trận công nông chống đế quốc. Luận cương đã chỉ ra nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn này: Với tính chất của cuộc cách mạng ở Đông Dương lúc bấy giờ là một “cuộc cách mạng tư sản dân quyền”,”có tính chất thổ địa cách mạng và phản đế” và vì thế với tính chất như vậy nhiệm vụ cốt yếu đặt ra cho một cuộc cách mạng tư sản dân quyền bấy giờ sẽ là:”tranh đấu để đánh đổ các di tích phong kiến, đánh đổ các cách bóc lột theo lối tiền tư bổn và để thực hành thổ địa cách mạng cho triệt để và đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập.
Hai nhiệm vụ chiến lược đó có mối quan hệ khăng khít với nhau:” 5 vì có đánh đổ đế quốc chủ nghĩa mới phá được giai cấp địa chủ và làm cách mạng thổ địa mới thắng lợi; mà có phá tan chế độ phong kiến thì mới đánh đổ được đế quốc chủ nghĩa”, qua hai nhiệm vụ cấp thiết trên được đề ra trong văn kiện ta có thể nhận thấy được Đảng Cộng sản Đông Dương lúc bấy giờ vô cùng đặt nặng vấn đề chống phong kiến để giành lại ruộng đất cho nông dân, xem đó như vấn đề hàng đầu cần được cấp bách giải quyết còn vấn đề về chống thực dân pháp để giải phóng Đông Dương vẫn rất quan trọng, song thông qua những lời trích dẫn từ văn kiện ta có thể nhận thấy rằng đó không còn được đặt trọng tâm lên hàng đầu nữa. Tiếp đến là về lực lượng cách mạng: Đối với giai cấp vô sản, dân cày : họ lần lượt là động lực chính và mạnh của cuộc cách mạng tư sản dân quyền theo như luận cương đã xác định. Sở dĩ giai cấp vô sản, dân cày đóng vai trò vô cùng quan trọng là do họ đều là những tầng lớp bị bóc lột nặng nề theo lối tư bản chủ nghĩa dẫn đến họ vô cùng hăng hái đấu tranh để chống lại tư bản đế quốc. Đối với giai cấp tư sản thì luận cương có những góc nhìn như sau: 5 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb.
Chính trị quốc gia, 2002,t. 19 Downloaded by ANH BACH (bachvan15@gmail.com) lOMoARcPSD|39150642 “Bọn tư bổn thương mại vì có lợi quyền dính dáng với đế quốc nên đứng về một phe với đế quốc chủ nghĩa và địa chủ mà chống cách mạng”6 “Bọn tư bổn công nghệ vẫn có lợi quyền trái với đế quốc chủ nghĩa” 7 nhưng do sức lực kém, liên quan đến địa chủ cũng như sợ các phong trào vô sản và chịu ảnh hưởng phản cách mạng của tư bản Tàu và Ấn Độ nên chỉ đứng về mặt quốc gia cải lương, nhưng khi cách mạng vô sản nổi lên thì giai cấp này sẽ theo phe đế quốc chủ nghĩa Đối với giai cấp tiểu tư sản luận cương đã xác định: Thủ Công nghiệp thường có thái độ do dự đối với Cách Mạng Tiểu Tư sản thương gia thì muốn giữ chế độ hiện thời và không tán thành với Cách mạng Tiểu tư sản,trí thức, học sinh chỉ hăng hái tham gia lúc ban đầu, luận cương cũng đã xác định rằng:” chúng nó không thể bênh vực quyền lợi cho dân cày được, vì phần nhiều có dây dướng với bọn địa chủ”8 Với luận cương 10/1930 Đảng cộng sản Đông Dương gần như đặt niềm tin tuyệt đối vào giai cấp vô sản, dân cày và xem họ là lực lượng cách mạng cốt lõi của cuộc cách mạng, phần nhiều cũng phải đồng ý với quan điểm này bởi họ là lực lượng vô cùng đông đảo trong xã hội, hơn hết tinh thần cách mạng của họ là vô cùng cao do chịu nhiều sự tra tấn bốc lộc của các chủ nghĩa thực dân,đặc biệt với nhiệm vụ của cuộc cách mạng lúc bấy giờ là cách mạng tư sản dân quyền cho nên lãnh đạo cách mạng là giai cấp vô sản là rất đúng đắn. Nhưng thực sự Đảng cộng sản Đông Dương vẫn gần như chưa đặt niềm tin vào các giai cấp còn lại mặc dù có thể ngoài vô sản ra thì các tầng lớp khác vẫn vô cùng yêu nước và rất khát khao được hợp sức với Cách mạng. Về phương pháp cách mạng, Luận cương chỉ rõ sự cần thiết phải sử dụng bạo lực cách mạng và nhấn mạnh:” võ trang bạo động không phải là một việc thường… phải theo khuôn phép nhà binh”9.
6 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, 2002,t. 7 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, 2002,t.
8 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, 2002,t. 9 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, 2002,t.
20 Downloaded by ANH BACH (bachvan15@gmail.com) lOMoARcPSD|39150642 Về mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới, Luận cương cũng nhấn mạnh:Vô sản Đông Dương phải liên lạc mật thiết với vô sản thế giới, nhất là vô sản Pháp… với quần chúng cách mạng ở các nước thuộc địa, bán thuộc địa, nhất là Trung Quốc với Ấn Độ.