Tổng quan nghiên cứu

Tài nguyên nước mặt tại Việt Nam đang chịu áp lực suy thoái nghiêm trọng khi có khoảng 63% tổng lượng dòng chảy hàng năm (tương đương gần 500 tỷ mét khối) sản sinh từ ngoài lãnh thổ và chỉ khoảng 37% hình thành trong nội địa. Sự phân bố dòng chảy không đồng đều theo thời gian với hơn 75% lượng nước tập trung vào mùa lũ, khiến mùa kiệt kéo dài từ 6 đến 7 tháng thường xuyên đối mặt với nguy cơ cạn kiệt. Trên lưu vực sông Srêpôk thuộc vùng Tây Nguyên, sự xuất hiện của các công trình thủy điện lớn như Buôn Tua Srah, Buôn Kuốp, Srêpôk 3 và Srêpôk 4 đã làm biến đổi sâu sắc chế độ thủy văn hạ du. Dù các hồ chứa có thể làm tăng lưu lượng trung bình mùa cạn, nhưng chế độ vận hành phát điện phủ đỉnh theo chu kỳ 12 giờ phát điện công suất tối đa và 12 giờ ngừng máy ban đêm đã tạo ra những khúc sông khô hạn cục bộ, gây đe dọa trực tiếp đến hệ sinh thái thủy sinh và nguồn nước sinh kế của người dân.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là xây dựng phương pháp luận khoa học nhằm xác định yêu cầu duy trì dòng chảy tối thiểu trên dòng chính sông, đồng thời áp dụng thí điểm tính toán các giá trị lưu lượng và mực nước giới hạn cho vùng hạ lưu sông Srêpôk thuộc địa phận Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu bao quát chuỗi số liệu quan trắc thủy văn hơn 20 năm tại các trạm đo đại diện, kết hợp khảo sát thực địa hiện trạng các công trình khai thác nước và các khu bảo tồn thiên nhiên ven sông. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc lượng hóa chỉ số dòng chảy tối thiểu dựa trên nguyên tắc tối ưu hóa hàm cực đại giữa dòng chảy sinh thái và nhu cầu dùng nước kinh tế, cung cấp cơ sở pháp lý và kỹ thuật vững chắc để triển khai Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13 và các văn bản hướng dẫn quản lý tài nguyên nước tại lưu vực sông liên tỉnh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tổng hòa của bốn nhóm lý thuyết và mô hình xác định dòng chảy môi trường phổ biến trên thế giới:

  1. Lý thuyết chỉ số thủy văn: Trọng tâm là phương pháp Tennant, tiếp cận dòng chảy môi trường thông qua tỷ lệ phần trăm dòng chảy bình quân nhiều năm (từ 10% đến 60% dòng chảy năm tùy theo cấp độ bảo vệ hệ sinh thái) và phương pháp xác định lưu lượng tháng nhỏ nhất ứng với tần suất thiết kế 90%.
  2. Lý thuyết thủy lực hình học lòng dẫn: Ứng dụng phương pháp chu vi ướt dựa trên mối quan hệ phi tuyến giữa lưu lượng xả và diện tích mặt cắt ướt, xác định điểm uốn tới hạn nhằm bảo toàn môi trường sống của sinh vật đáy và các bãi đẻ tự nhiên của cá.
  3. Lý thuyết mô phỏng sinh cảnh và tiếp cận tổng thể: Kế thừa các nguyên lý từ phương pháp mô phỏng môi trường sống vật lý PHABSIM và phương pháp khối xây dựng BBM nhằm gắn kết động lực dòng chảy với vòng đời sinh trưởng của thủy sinh vật.

Hệ thống khái niệm cốt lõi bao gồm: Dòng chảy tối thiểu (mức xả thấp nhất cần thiết để bảo vệ hệ sinh thái thủy sinh và cấp nước hạ du theo quy định pháp luật); Điểm kiểm soát (mặt cắt đại diện trên sông để giám sát lưu lượng và mực nước); Dòng chảy sinh thái môi trường; và Nhu cầu dùng nước hạ du của các ngành kinh tế. Mô hình nghiên cứu xác lập bản chất dòng chảy tối thiểu là giá trị cực đại giữa nhu cầu sinh thái và tổng nhu cầu dùng nước thực tế tại từng thời đoạn.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập toàn diện từ mạng lưới hơn 15 trạm khí tượng thủy văn trong và lân cận lưu vực sông Srêpôk, kết hợp chuỗi số liệu quan trắc dòng chảy thực tế liên tục trên 20 năm (giai đoạn từ năm 1980 đến 2012) tại các trạm thủy văn cấp 1, cấp 2 và số liệu đo đạc mặt cắt lòng dẫn tại 4 đoạn sông trọng điểm. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ chuỗi số liệu dòng chảy ngày, tháng của 4 công trình thủy điện bậc thang chính và hơn 50 công trình lấy nước tưới nông nghiệp trên dòng chính. Phương pháp chọn mẫu tập trung vào các tuyến mặt cắt đại diện có biến động địa hình đáy sông rõ rệt và chịu tác động trực tiếp từ quy trình xả nước thượng lưu.

Phương pháp phân tích cốt lõi là ứng dụng mô hình thủy văn mưa - dòng chảy NAM để khôi phục và mô phỏng chuỗi dòng chảy tại các lưu vực khu giữa không có trạm quan trắc, với chỉ số đánh giá độ tin cậy đạt mức tương quan cao. Lý do lựa chọn mô hình toán kết hợp phân tích thống kê xác suất là nhằm khắc phục triệt để tình trạng thiếu hụt chuỗi đo đạc chi tiết tại vùng hạ lưu, đảm bảo dữ liệu tính toán phản ánh sát thực tế biến động khí hậu nhiệt đới gió mùa trong suốt chu kỳ nghiên cứu từ năm 2012 đến 2014.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã mang lại 4 kết quả mang tính định lượng rõ rệt:

Thứ nhất, nghiên cứu thiết lập thành công hệ thống 5 tiêu chí khoa học và lựa chọn được các Điểm kiểm soát trọng yếu trên dòng chính hạ lưu sông Srêpôk, đặt tại các vị trí tiếp giáp sau các đập thủy điện lớn như Buôn Kuốp, Srêpôk 3, Srêpôk 4 và các trạm thủy văn khống chế dòng chảy ra biên giới.

Thứ hai, việc tính toán thành phần dòng chảy sinh thái môi trường theo phương pháp Tennant cho thấy, để duy trì hệ sinh thái ở mức tốt đến hoàn hảo, lưu lượng mùa khô cần đạt tối thiểu từ 20% đến 30% dòng chảy bình quân năm, tương đương với giá trị lưu lượng kiệt tháng ứng với tần suất 90% dao động từ khoảng 18,5 mét khối/giây đến 45,2 mét khối/giây tùy từng đoạn sông.

Thứ ba, kết quả cân bằng nước hạ du chỉ ra rằng tổng nhu cầu nước tưới nông nghiệp và sinh hoạt trong các tháng cao điểm mùa khô (tháng 3 và tháng 4) chiếm tỷ trọng vượt trội, cao hơn nhu cầu sinh thái từ 25% đến 40% tại các phân lưu chính, khẳng định nhu cầu khai thác sử dụng là thành phần chi phối giá trị dòng chảy tối thiểu tại các điểm kiểm soát phía hạ du.

Thứ tư, phân tích chế độ vận hành thực tế cho thấy hiện tượng điều tiết phủ đỉnh nhật triều khiến lưu lượng xả về ban đêm giảm tới 85% đến 100% so với lưu lượng phát điện cực đại ban ngày, tạo nên những đợt cạn kiệt nhân tạo kéo dài từ 8 đến 12 tiếng mỗi ngày, gây suy thoái cục bộ chất lượng nước và làm gián đoạn hành lang di cư của các loài cá bản địa.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của sự bất cập dòng chảy hạ lưu bắt nguồn từ sự xung đột lợi ích giữa bài toán tối ưu hóa doanh thu phát điện giờ cao điểm của các nhà máy thủy điện và nghĩa vụ cấp nước liên tục cho hạ du. Khi so sánh với các nghiên cứu tương tự trên lưu vực sông Hồng (nơi hồ Hòa Bình duy trì dòng chảy kiệt từ 400 đến 600 mét khối/giây) hay hệ thống 5 bậc thang thủy điện sông Sê San (làm tăng dòng chảy kiệt trung bình tháng từ 1,3 đến 1,4 lần), lưu lượng tổng thể tháng mùa khô trên sông Srêpôk có xu hướng gia tăng nhưng tính liên tục của dòng chảy theo giờ lại bị phá vỡ nghiêm trọng.

Các kết quả tính toán trong luận văn được minh họa trực quan thông qua đường cong duy trì lưu lượng (FDC), biểu đồ quan hệ thủy lực giữa lưu lượng và chu vi mặt cắt ướt nhằm xác định điểm uốn sinh thái, kết hợp bảng tổng hợp chế độ dòng chảy và mực nước tối thiểu theo từng tháng trong năm. Ý nghĩa thực tiễn của phát hiện này khẳng định việc quy định dòng chảy tối thiểu không thể chỉ dừng lại ở chỉ số lưu lượng trung bình tháng, mà bắt buộc phải gắn liền với ràng buộc lưu lượng xả tức thời liên tục theo từng giờ tại các cửa xả công trình.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Ban hành và tích hợp quy chuẩn xả dòng chảy tối thiểu liên tục vào quy trình vận hành liên hồ chứa: Bắt buộc các nhà máy thủy điện trên dòng chính sông Srêpôk (đặc biệt là Buôn Tua Srah, Srêpôk 3 và Srêpôk 4) phải xả nước liên tục 24/24 giờ qua tổ máy phát điện hoặc cống xả đáy với lưu lượng không thấp hơn ngưỡng dòng chảy tối thiểu đã được xác định cho từng tháng mùa cạn; chấm dứt hoàn toàn việc đóng kiệt 100% dòng xả trong các giờ thấp điểm ban đêm. Thời gian thực hiện: Giai đoạn 2015 - 2017. Chủ thể thực hiện: Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với Bộ Công Thương và Tập đoàn Điện lực Việt Nam.
  2. Lắp đặt và hiện đại hóa hệ thống quan trắc tự động tại tất cả các điểm kiểm soát: Xây dựng trạm đo lưu lượng và mực nước tự động truyền dữ liệu theo thời gian thực với tần suất 15 phút/lần về cơ quan quản lý nhà nước và công khai trên cổng thông tin điện tử lưu vực; duy trì sai số thiết bị dưới 5%. Thời gian thực hiện: Hoàn thành trong giai đoạn 2016 - 2018. Chủ thể thực hiện: Các chủ hồ chứa thủy điện phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông.
  3. Tăng cường trồng và phục hồi khoảng 15.000 ha rừng phòng hộ đầu nguồn lưu vực sông Srêpôk: Nâng độ che phủ rừng lưu vực thêm từ 3% đến 5% nhằm tăng khả năng giữ nước, nâng cao lưu lượng kiệt tự nhiên thêm khoảng 10% đến 15% vào mùa khô, đồng thời thực thi nghiêm ngặt chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Thời gian thực hiện: Kế hoạch 5 năm 2016 - 2020. Chủ thể thực hiện: Ủy ban nhân dân các tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
  4. Thiết lập cơ chế giám sát liên ngành và tham vấn quản lý tài nguyên nước xuyên biên giới: Định kỳ hàng quý tổ chức đánh giá việc thực thi dòng chảy tối thiểu tại các điểm kiểm soát giáp ranh Campuchia, đảm bảo cam kết quốc tế trong khuôn khổ Hiệp định Mê Công 1995 về duy trì dòng chảy trên dòng chính. Thời gian thực hiện: Triển khai thường niên từ năm 2015. Chủ thể thực hiện: Ủy ban Sông Mê Công Việt Nam, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Ngoại giao.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên nước và môi trường: Cục Quản lý Tài nguyên nước, các Chi cục Thủy lợi và Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh Tây Nguyên. Lợi ích: Tiếp cận cơ sở khoa học, tiêu chí phân định điểm kiểm soát và công thức tính toán để trực tiếp áp dụng vào việc thẩm định, phê duyệt giấy phép khai thác sử dụng nước và ban hành văn bản công bố dòng chảy tối thiểu theo luật định.
  2. Chủ đầu tư, đơn vị tư vấn thiết kế và kỹ sư vận hành nhà máy thủy điện: Đội ngũ kỹ thuật tại các công trình trên lưu vực sông Srêpôk và các bậc thang thủy điện toàn quốc. Lợi ích: Cung cấp khung phương pháp kỹ thuật để hiệu chỉnh biểu đồ huy động công suất phát điện, xây dựng phương án xả đáy phù hợp nhằm tuân thủ quy chuẩn môi trường mà vẫn tối ưu hóa sản lượng điện năng.
  3. Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Môi trường và Thủy văn: Các trường đại học khối kỹ thuật, viện nghiên cứu khí tượng thủy văn. Lợi ích: Cung cấp tài liệu tham khảo học thuật chuyên sâu về sự kết hợp giữa mô hình thủy văn NAM, phương pháp Tennant và phương pháp chu vi ướt trong điều kiện số liệu thực tế tại Việt Nam.
  4. Các tổ chức phi chính phủ và cơ quan bảo tồn thiên nhiên: Ban quản lý Vườn Quốc gia Yok Đôn và các tổ chức bảo tồn hệ sinh thái thủy sinh. Lợi ích: Sử dụng dữ liệu định lượng về nhu cầu ngập lụt bãi sông và chế độ thủy lực dòng chảy để xây dựng các chương trình phục hồi quần thể thủy sản và sinh cảnh đất ngập nước.

Câu hỏi thường gặp

Dòng chảy tối thiểu khác dòng chảy môi trường ở những điểm căn bản nào? Dòng chảy môi trường là thuật ngữ sinh thái học nhằm chỉ chế độ dòng chảy cần thiết để duy trì hệ sinh thái thủy vực và các vùng đất ngập nước. Trong khi đó, dòng chảy tối thiểu theo khung pháp lý Việt Nam là giá trị cực đại được tích hợp đồng thời giữa nhu cầu dòng chảy môi trường và tổng nhu cầu dùng nước thực tế tối thiểu của các ngành kinh tế - xã hội ở hạ lưu tại từng thời điểm.

Tại sao hồ chứa thủy điện làm tăng lượng nước trung bình mùa khô nhưng hạ lưu vẫn bị khô kiệt? Nguyên nhân do chế độ vận hành phát điện phủ đỉnh ngày đêm. Dù tổng lượng xả cả tháng tăng lên, nhưng các hồ chỉ xả nước lưu lượng rất lớn trong khoảng từ 8 đến 12 giờ cao điểm ban ngày và ngừng xả hoàn toàn hoặc xả rất ít vào ban đêm, tạo ra hiện tượng cạn kiệt dòng chảy theo giờ làm đứt gãy môi trường sống hạ lưu.

Tiêu chí quan trọng nhất khi lựa chọn Điểm kiểm soát dòng chảy tối thiểu trên sông là gì? Tiêu chí quan trọng nhất là tính đại diện liên tục của dòng chảy, vị trí nhạy cảm sinh thái (gần bãi đẻ, khu bảo tồn như Vườn Quốc gia Yok Đôn) và vị trí ngay sau các công trình khai thác, điều tiết lớn hoặc các trạm thủy văn quốc gia sẵn có nhằm tối ưu hóa chi phí và thuận tiện cho việc giám sát thực địa.

Mô hình thủy văn NAM đóng vai trò gì trong phương pháp luận của luận văn? Mô hình NAM đóng vai trò mô phỏng quan hệ mưa - dòng chảy để tính toán và khôi phục chuỗi dòng chảy liên tục cho các tiểu lưu vực khu giữa và các đoạn sông không có trạm đo đạc. Mô hình cho phép xác định chính xác lượng nước gia nhập khu giữa với hệ số tương quan Nash-Sutcliffe đạt độ tin cậy trên 80%.

Phương pháp Tennant có thể áp dụng trực tiếp tại các sông ngòi Việt Nam không? Phương pháp Tennant nguyên bản xây dựng cho các loài cá ôn đới tại Mỹ nên không thể áp dụng máy móc. Khi sử dụng tại Việt Nam, phương pháp cần được hiệu chỉnh tỷ lệ phần trăm dòng chảy năm theo mùa lũ - cạn nhiệt đới và bắt buộc phải kết hợp đối chứng với phương pháp chu vi ướt cùng chuỗi tần suất lưu lượng tháng kiệt 90%.

Kết luận

  • Luận văn đã hoàn thiện phương pháp luận khoa học xác định dòng chảy tối thiểu trên sông chính, kết hợp hài hòa giữa bảo tồn sinh thái và khai thác kinh tế theo nguyên tắc lấy giá trị cực đại giữa hai thành phần.
  • Thiết lập thành công hệ thống 5 tiêu chí lựa chọn Điểm kiểm soát và quy trình 5 bước xác định vị trí giám sát dòng chảy tối ưu trên lưu vực sông.
  • Áp dụng tính toán thực nghiệm chuẩn xác các chỉ tiêu lưu lượng và mực nước tối thiểu theo từng tháng mùa kiệt tại hạ lưu sông Srêpôk với chuỗi số liệu thủy văn tin cậy trên 20 năm.
  • Vạch rõ tác động tiêu cực của quy trình vận hành thủy điện phủ đỉnh nhật triều đối với sự suy giảm dòng chảy hạ lưu, cung cấp bằng chứng thực nghiệm giá trị cho công tác quản lý tài nguyên nước.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp kỹ thuật, chính sách và hợp tác liên ngành có tính khả thi cao, mở ra lộ trình triển khai cụ thể cho giai đoạn từ năm 2015 trở đi.

Các cơ quan quản lý tài nguyên nước, các đơn vị vận hành công trình thủy điện và các nhà nghiên cứu hãy tham khảo, kế thừa phương pháp luận này để áp dụng cho các lưu vực sông liên tỉnh khác trên toàn quốc nhằm bảo vệ nguồn nước bền vững.