Tổng quan nghiên cứu

Theo thống kê từ Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ô nhiễm không khí là tác nhân liên quan trực tiếp đến khoảng 3,2 triệu ca tử vong sớm mỗi năm trên toàn cầu, trong đó có hơn 237.000 ca tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi. Trong bối cảnh đời sống hiện đại khi con người dành hơn 90% quỹ thời gian sinh hoạt và làm việc trong không gian kín, nồng độ các chất gây ô nhiễm không khí trong nhà thường cao hơn từ 2 đến 5 lần so với môi trường ngoài trời. Trong số các hợp chất độc hại, formaldehyde (HCHO) được Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế (IARC) xếp vào nhóm 1 các chất có khả năng gây ung thư hàng đầu ở người, đặc biệt là ung thư vòm họng, ung thư xoang mũi và bệnh bạch cầu. Hợp chất này phát sinh phổ biến từ keo dán công nghiệp, vật liệu gỗ ép, vải chống nhăn, khói thuốc lá và hoạt động đốt nhang thờ cúng.

Mặc dù mức độ nguy hại rất lớn, việc quan trắc định kỳ formaldehyde tại Việt Nam vẫn gặp nhiều rào cản do phương pháp lấy mẫu chủ động truyền thống đòi hỏi hệ thống bơm hút cồng kềnh, nguồn điện liên tục và chi phí vận hành tốn kém. Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Kỹ thuật Hóa học của tác giả Huỳnh Thanh Bình, thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Trần Thị Kiều Anh tại Trường Đại học Bách Khoa - ĐHQG TP. Hồ Chí Minh trong giai đoạn từ ngày 06/02/2023 đến ngày 10/12/2023, đã tập trung giải quyết triệt để bài toán này. Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là phát triển thiết bị lấy mẫu thụ động dạng huy hiệu Willems (Willems badge) kết hợp kỹ thuật phân tích quang phổ UV-Vis. Công trình mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc khi cung cấp giải pháp quan trắc nồng độ formaldehyde nhỏ gọn, chi phí thấp nhưng đạt độ tin cậy cao, hỗ trợ đắc lực cho việc kiểm soát chất lượng không khí theo Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 13521:2022 với ngưỡng an toàn quy định là 100 µg/m3.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng định luật khuếch tán Fick I, mô tả sự vận chuyển thụ động của các phân tử khí từ môi trường có nồng độ cao vào bề mặt màng hấp thụ tĩnh mà không cần lực hút cơ học. Quá trình định lượng quang phổ tiếp tục áp dụng định luật Lambert-Beer để xác định nồng độ formaldehyde dựa trên mật độ quang của phức màu ở các bước sóng đặc trưng. Luận văn khai thác sâu hai cơ chế hóa học tạo phức: phản ứng giữa formaldehyde với Chromotropic acid (CA) trong môi trường acid sulfuric đặc nóng khoảng 60% thể tích tạo phức màu tím đỏ đo tại bước sóng 580 nm, và phản ứng ngưng tụ giữa formaldehyde với thuốc thử Pararosaniline hydrochloride (PRA) đã được acid hóa bởi acid hydrochloric khi có mặt sodium sulfite tạo dẫn xuất cromogen màu tím sẫm. Hệ thống khái niệm cốt lõi bao gồm phương pháp lấy mẫu thụ động (PSM), thiết bị dạng huy hiệu Willems (Willems badge), tốc độ lấy mẫu thực nghiệm (Ke), giới hạn phát hiện (LOD) và giới hạn định lượng (LOQ).

Phương pháp nghiên cứu

Về nguồn dữ liệu và quy trình chế tạo thiết bị, nghiên cứu sử dụng màng lọc sợi thủy tinh tẩm dung dịch sodium bisulfite nồng độ 1% hoặc 5% (phương pháp P-CA) và màng tẩm 500 µL dung dịch PRA 6,2 mM được acid hóa bằng 2,00 mL acid hydrochloric đậm đặc kết hợp 500 µL dung dịch sodium sulfite 16 mM (phương pháp P-PRA). Cỡ mẫu thực nghiệm gồm hơn 30 bộ lấy mẫu thụ động được khảo sát lặp lại ở các mốc thời gian khuếch tán 60 phút, 120 phút, 240 phút, 360 phút và 480 phút trong buồng mô phỏng chuẩn có kiểm soát nồng độ dòng khí từ 0,05 đến 0,8 mL/m3.

Phương pháp lấy mẫu chủ động tiêu chuẩn NIOSH 3500 với bơm hút duy trì lưu lượng 0,2 đến 1,0 L/phút qua 2 bình hấp thụ chứa dung dịch sodium bisulfite 1% được chọn làm hệ quy chiếu đối chứng. Phương pháp đo quang phổ UV-Vis được lựa chọn thay thế cho sắc ký HPLC-UV hay GC-MS nhờ ưu thế thao tác đơn giản, hóa chất thông dụng, tiết kiệm hơn 70% chi phí phân tích mà vẫn đảm bảo độ lặp lại cao với độ lệch chuẩn tương đối (RSD) dưới 7%. Toàn bộ tiến trình thực nghiệm được triển khai chặt chẽ từ tháng 02/2023 đến tháng 12/2023 tại phòng thí nghiệm và hiện trường hộ gia đình.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã ghi nhận bốn phát hiện khoa học quan trọng với đầy đủ minh chứng thực nghiệm:

Thứ nhất, hiệu suất thu hồi (Recovery) formaldehyde từ màng lọc sợi thủy tinh đạt mức vượt trội trên 90% đối với cả hai hệ chất hấp thụ sodium bisulfite và PRA acid hóa, hoàn toàn thỏa mãn các tiêu chí kiểm định nghiêm ngặt theo chuẩn AOAC quốc tế.

Thứ hai, độ ổn định lưu giữ mẫu đạt kết quả ấn tượng khi màng hấp thụ duy trì độ chính xác cao trong thời gian bảo quản trước khi lấy mẫu (pre-exposure) và sau khi lấy mẫu (post-exposure) kéo dài từ 10 đến 14 ngày ở nhiệt độ phòng mà không gây sai số phân tích vượt quá 5%.

Thứ ba, tốc độ lấy mẫu thực nghiệm (Ke) được xác lập chính xác: đối với hệ P-CA, Ke đạt 8,41 ± 0,80 cm3/phút trong khoảng thời gian lấy mẫu 1 giờ và đạt 5,80 ± 0,74 cm3/phút cho các khoảng thời gian lấy mẫu từ 2 giờ đến 8 giờ; đối với hệ P-PRA, Ke đạt 6,89 ± 0,50 cm3/phút trong 1 giờ lấy mẫu.

Thứ tư, khi ứng dụng quan trắc thực tế không khí trong nhà sau hoạt động đốt nhang thờ cúng, nồng độ formaldehyde phát tán đo được dao động từ 500 µg/m3 đến 7.600 µg/m3, vượt giới hạn cho phép của Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 13521:2022 (100 µg/m3) từ 5 đến 76 lần.

Thảo luận kết quả

Hiện tượng tốc độ lấy mẫu thực nghiệm Ke của hệ P-CA giảm nhẹ từ 8,41 cm3/phút xuống 5,80 cm3/phút khi kéo dài thời gian từ 1 giờ lên trên 2 giờ được giải thích do sự tích tụ chất phản ứng ở bề mặt màng, làm suy giảm nhẹ độ chênh lệch gradient nồng độ khuếch tán theo định luật Fick I. Khi so sánh với các công trình quốc tế, tốc độ lấy mẫu Ke của thiết bị Willems badge trong luận văn tương thích cao và vượt trội về độ nhạy so với nghiên cứu của Geisling năm 1982 trên ống khuếch tán tẩm sodium bisulfite 5% (Ke chỉ đạt 3,95 ± 0,17 cm3/phút), đồng thời tối ưu hóa chi phí hơn phương pháp Willems badge sử dụng 2,4-DNPH phân tích bằng HPLC của Grosjean và Williams năm 1992 (Ke đạt 18,8 ± 1,8 mL/phút).

Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan thông qua đồ thị hồi quy tuyến tính của các đường chuẩn với hệ số tương quan R2 đạt trên 0,999. Động học lấy mẫu được minh họa sinh động qua biểu đồ đường thể hiện sự biến thiên của tốc độ Ke theo các mốc thời gian từ 60 đến 480 phút, kết hợp bảng số liệu đối chiếu song song giữa phương pháp thụ động Willems badge và phương pháp chủ động NIOSH 3500 với độ sai lệch tương đối chỉ dao động dưới 8,6%.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các phát hiện thực nghiệm, bốn giải pháp trọng tâm được đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát ô nhiễm formaldehyde trong không khí:

Thứ nhất, chuẩn hóa và nhân rộng quy trình quan trắc thụ động bằng thiết bị Willems badge tẩm sodium bisulfite tại các trường học, bệnh viện và văn phòng làm việc. Giải pháp này giúp cắt giảm 65% chi phí đầu tư thiết bị so với phương pháp chủ động NIOSH 3500, do Trung tâm Quan trắc Môi trường và các cơ quan y tế dự phòng chủ trì triển khai trong lộ trình 2024 - 2026.

Thứ hai, ban hành quy chuẩn kỹ thuật bắt buộc kiểm soát lượng phát thải formaldehyde từ các sản phẩm hương nhang, nhang muỗi và vật liệu gỗ nội thất, hướng tới mục tiêu duy trì nồng độ phát tán dưới ngưỡng 100 µg/m3. Chủ thể thực hiện là Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với Bộ Y tế trong khung thời gian 12 đến 18 tháng tới.

Thứ ba, khuyến nghị người dân thực hiện chế độ thông gió mở toàn diện cả cửa sổ và cửa ra vào (chế độ WODO) trong và sau khi thắp hương. Biện pháp này giúp giảm tức thì hơn 80% nồng độ formaldehyde tồn dư trong phòng kín, đưa chất lượng không khí trở về mức an toàn theo TCVN 13521:2022.

Thứ tư, đẩy mạnh nghiên cứu cải tiến quy trình xử lý mẫu trong phòng thí nghiệm bằng cách thay thế môi trường acid sulfuric đặc nóng 60% bằng hệ xúc tác vi sóng hoặc acid hữu cơ ít ăn mòn hơn, thực hiện bởi các nhóm nghiên cứu tại các trường đại học khối kỹ thuật trong giai đoạn 2024 - 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn thạc sĩ này là nguồn tài liệu chuyên khảo mang giá trị thực tiễn cao cho bốn nhóm đối tượng:

Thứ nhất, kỹ sư môi trường và chuyên viên quan trắc chất lượng không khí: Nắm bắt chi tiết kỹ thuật tẩm màng sợi thủy tinh bằng sodium bisulfite và PRA acid hóa, đồng thời sử dụng công thức tốc độ lấy mẫu thực nghiệm Ke để triển khai các dự án đánh giá chất lượng không khí trong nhà (IAQ) quy mô lớn với chi phí tối ưu.

Thứ hai, cán bộ quản lý an toàn vệ sinh lao động tại các nhà máy dệt may, chế biến gỗ ép và xưởng sơn: Sử dụng thiết bị huy hiệu Willems nhỏ gọn làm thẻ đo phơi nhiễm cá nhân liên tục 8 giờ cho công nhân, phát hiện kịp thời nguy cơ phơi nhiễm khí độc vượt ngưỡng.

Thứ ba, giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Kỹ thuật Hóa học, Hóa Phân tích và Quản lý Môi trường: Tham khảo phương pháp luận chuẩn mực về đánh giá giá trị sử dụng của phương pháp (LOD, LOQ, độ thu hồi Recovery), cơ chế tạo phức màu quang phổ và mô hình khuếch tán khí theo định luật Fick.

Thứ tư, doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ nội thất, vật liệu xây dựng và sản phẩm thờ cúng: Nhận diện rõ rủi ro phát thải formaldehyde vượt chuẩn từ 5 đến 76 lần để chủ động chuyển đổi sang các dòng keo dán sinh học không chứa formol thân thiện với sức khỏe người tiêu dùng.

Câu hỏi thường gặp

Phương pháp lấy mẫu thụ động dạng huy hiệu Willems có ưu điểm gì so với lấy mẫu chủ động? Phương pháp thụ động Willems badge vận hành hoàn toàn dựa trên sự khuếch tán tự nhiên của phân tử khí theo định luật Fick I mà không cần máy bơm hút hay nguồn điện. Thiết bị có trọng lượng siêu nhẹ, không gây tiếng ồn, giảm hơn 70% chi phí đầu tư và đặc biệt thích hợp cho việc theo dõi độ phơi nhiễm cá nhân trong khoảng thời gian từ 1 đến 8 giờ.

Chất hấp thụ nào mang lại hiệu quả tối ưu giữa Sodium bisulfite và Pararosaniline hydrochloride? Cả hai chất hấp thụ đều đạt hiệu suất thu hồi cao trên 90%. Tuy nhiên, sodium bisulfite (phương pháp P-CA) có độ ổn định cao hơn với tốc độ lấy mẫu 5,80 cm3/phút cho các khoảng thời gian lấy mẫu kéo dài trên 2 giờ, trong khi Pararosaniline hydrochloride (P-PRA) cho tốc độ 6,89 cm3/phút trong 1 giờ nhưng đòi hỏi kiểm soát khắt khe lượng acid hydrochloric.

Thời gian bảo quản màng hấp thụ trước và sau khi lấy mẫu là bao lâu để đảm bảo độ chính xác? Màng lọc sợi thủy tinh sau khi tẩm hóa chất có thể bảo quản kín trước khi lấy mẫu lên đến 14 ngày. Sau khi thu mẫu ngoài hiện trường, màng tiếp tục được lưu trữ ổn định từ 10 đến 14 ngày ở nhiệt độ phòng mà kết quả phân tích nồng độ formaldehyde không bị sai lệch đáng kể so với mẫu phân tích ngay.

Tại sao việc đốt nhang trong nhà lại làm nồng độ formaldehyde tăng vọt gấp 5 đến 76 lần chuẩn cho phép? Quá trình cháy âm ỉ không hoàn toàn của bột gỗ, chất kết dính tổng hợp và hương liệu trong nhang ở không gian kín phát tán lượng lớn formaldehyde cùng bụi mịn PM2.5. Khi phòng không được thông gió tốt, nồng độ formaldehyde tích tụ nhanh chóng, đạt mức 500 đến 7.600 µg/m3, vượt xa ngưỡng 100 µg/m3 theo TCVN 13521:2022.

Làm thế nào để tính toán nồng độ formaldehyde trong không khí từ khối lượng chất hấp thụ trên màng? Nồng độ formaldehyde trong không khí được xác định qua công thức C = m / (Ke × t), trong đó m là khối lượng formaldehyde giữ lại trên màng hấp thụ, Ke là tốc độ lấy mẫu thực nghiệm và t là thời gian lấy mẫu. Khối lượng m được định lượng chính xác thông qua mật độ quang đo bằng máy quang phổ UV-Vis.

Kết luận

  • Luận văn đã phát triển thành công quy trình lấy mẫu thụ động formaldehyde trong không khí bằng thiết bị huy hiệu Willems badge kết hợp kỹ thuật phân tích quang phổ UV-Vis với độ tin cậy và độ nhạy cao.
  • Khảo sát hoàn thiện hai hệ chất hấp thụ sodium bisulfite và PRA acid hóa, đạt hiệu suất thu hồi màng trên 90% cùng thời gian lưu trữ mẫu an toàn kéo dài từ 10 đến 14 ngày.
  • Xác định chính xác bộ thông số tốc độ lấy mẫu thực nghiệm với Ke đạt 8,41 cm3/phút (1 giờ) và 5,80 cm3/phút (trên 2 giờ) cho hệ P-CA, tương thích cao với phương pháp quy chuẩn NIOSH 3500.
  • Cung cấp dữ liệu cảnh báo quan trọng về nồng độ formaldehyde trong nhà sau khi thắp nhang vượt từ 5 đến 76 lần ngưỡng quy định của Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 13521:2022.
  • Định hướng nhân rộng giải pháp quan trắc chất lượng không khí chi phí thấp tại Việt Nam trong giai đoạn 2024 - 2026; các cơ quan, doanh nghiệp và hộ gia đình hãy chủ động liên hệ các đơn vị chuyên môn để kiểm tra và bảo vệ an toàn chất lượng không khí sống ngay hôm nay.