Chương 1: Tổng quan về bat bình đăng thu nhập và các nghiên cứu Chương 2: Tổng quan về phương pháp phân rã Oaxaca-Blinder và ứng dụng Chương 3: Nghiên cứu bat bình dang thu nhập bằng phương pháp phân rã Oaxaca — Blinder CHUONG 1: TONG QUAN VE BAT BÌNH DANG THU NHAP VA PHUONG PHAP NGHIEN CUU 1. TONG QUAN VE BAT BÌNH DANG THU NHAP 1. Những khai niệm cơ ban Phân phối là một trong những phạm trù kinh tế chung nhất của xã hội loài người cùng với sản xuất và tiêu dùng. Nhìn chung, phân phối có thé được hiểu là hoạt động phân chia các yếu tố sản xuất, bao gồm các nguồn lực đầu vào trong quá trình sản xuât và các sản phâm đâu ra của hệ thông tái sản xuât xã hội.
Phân phối thu nhập là một bộ phận của phân phối, gắn liền với việc phân phối sản phẩm đầu ra được biểu hiện dưới các hình thái thu nhập, đây là cách thức phân chia thu nhập quôc dân của một quôc gia cho các công dân của quôc giá đó. 11181686 — Nguyễn Thu Hiền 11 Chuyên đề thực tập chuyên ngành Toán kinh tế Thực tiễn cho thấy phân phối thu nhập đóng một vai trò quan trọng trong mọi xã hội cũng như các hình thái kinh tế vì nó hỗ trợ cho hoạt động tiêu dùng và quá trình tái sản xuât xã hội, đảm bảo cho sự tôn tại của nhân loại. Về mặt thực tiễn, ngoài việc tuân theo nguyên tắc quyền sở hữu trong phân phối thu nhập, hoạt động phân phối thu nhập cũng đòi hỏi phải xác định được cách thức phân phối sao cho phù hợp. Trên thực tế, trên cơ sở tiêu chí lựa chọn phân tích, có thể phân loại hoạt động phân chia những sản phẩm đầu ra dưới hình thái thu nhập này bao gồm: phân phối theo đối tượng và phân phối theo chức năng.
Phân phối thụ nhập theo đối tượng (ca nhân/hộ gia đình), được các nhà kinh tế sử dụng rộng rãi nhất. Cách tiếp cận này xem xét cách thức phân phối thu nhập giữa các cá nhân hay các hộ gia đình như thế nào. Vấn đề cần quan tâm ở đây là mỗi cá nhân nhận được bao nhiêu mà không phụ thuộc vào nguồn hình thành thu nhập, không phân biệt đó là thu nhập từ tiền công, tiền lương, tiền lãi, tiền cho thuê, lợi nhuận, quà biếu, thừa kế hay thu nhập nhận được từ các chương trình phúc lợi. Các nguồn gốc về ngành nghề (công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, dịch vụ.) cũng không được xét đến.
Mục tiêu chính của cách tiếp cận này là xem xét thu nhập được phân phối có đồng đều giữa các nhóm người trong xã hội hay không (Torado, 1998). Phân phối thu nhập theo chức năng, cũng được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu kinh tế. Thay vì xem các cá nhân như những thực thể riêng biệt, phân phối thu nhập theo chức năng sẽ xem xét cách thức thu nhập được phân phối như thế nào cho các yếu tố sản xuất, đề cập đến tỷ trọng trong tổng thu nhập quốc dân ma mọi nhân tố sản xuất nhận được là bao nhiêu bất ké cá nhân hay nhóm người cụ thé nào nhận thu nhập. Cụ thé, phân phối thu nhập theo chức năng thường quan tâm đến tỷ lệ phần trăm của tông thu nhập quốc dân được phân phối cho lao động, tỷ lệ phần trăm được phân phối dưới dạng tiền cho thuê, tiền lãi, lợi nhuận (ví dụ thu nhập từ sở hữu tai sản bao gôm dat đai, von tài chính và von vật chat).
Xét về mặt khách quan, bình đăng về thu nhập là khi mọi người đều nhận được một khoản thu nhập như nhau. Còn về khái niệm mang tính chuân tắc, phân phối thu nhập mang tính công bằng xảy ra khi mỗi cá nhân được đánh giá đúng mức cho những nỗ lực mà họ đã bỏ ra, nhằm nâng cao mức sống của họ, xóa bỏ tình trạng không làm việc nhưng vẫn hưởng lợi, lao động chăm chỉ mà cuộc sống 11181686 — Nguyễn Thu Hiền 12 Chuyên đề thực tập chuyên ngành Toán kinh tế lại khó khăn, thiệt thòi. Phân phối thu nhập công băng đối lập với chủ nghĩa bình quân trong phân phối: mọi người đều có thu nhập như nhau bat ké năng lực và nỗ lực khác nhau của họ. Chủ nghĩa bình quân trong phân phối sẽ triệt tiêu động lực học tập, lao động và sáng tạo của con người, mả hệ quả tất yếu dẫn đến là một nền kinh tế trì trệ.
Bat bình dang thu nhập đề cập đến hiện tượng thu nhập được phân phối không đồng đều giữa các cá nhân hoặc các hộ gia đình trong nền kinh tế. Dé đánh giá được mức độ bất bình đắng thu nhập người ta thường dựa vào tỷ trọng thu nhập được nhận bởi bao nhiêu phan trăm dân số. Bat bình đăng thu nhập thường được gắn với ý tưởng về “sự bất công băng”. Nếu những người giàu nhận được một phần lớn hơn đáng kể trong thu nhập quốc dân so với tỷ lệ trong dân số thì thường được coi là “không công băng”.
Nguyên nhân gây ra sự bat bình đăng về thu nhập Bất bình đăng thu nhập vừa là van đề của lịch sử dé lại, vừa là van đề của sự phát triển quốc gia mà quốc gia nào cũng phải đối mặt. Tình trạng bất bình đẳng thu nhập thể hiện ở các mức độ khác nhau giữa các quốc gia. Theo Adam Smith, trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản, khi người lao động không có ruộng đất và phải đi làm thuê dé tạo ra của cải thì họ chỉ được hưởng lợi một phần giá tri của sản phẩm được tạo ra, đó là tiền công. Bên cạnh đó, lợi nhuận và địa tô là những khoản khấu trừ tiếp theo vào trong giá trị sản phẩm sản xuất ra và chủ sở hữu của nó là nhà tư bản kinh doanh và các địa chủ.
Ngoài ra, lợi tức là một phan của lợi nhuận và nó thuộc về chủ sở hữu von. Theo Marx, phân phối thu nhập có hai hình thức là phân phối thu nhập quốc dân lần đầu và phân phối lại. Phân phối lần đầu bao gồm tiền lương của người lao động và thu nhập của các nhà tư bản và địa chủ. Nếu như tiền lương của công nhân chỉ đủ trang trải cho bản thân và gia đình họ thì phần thu nhập của nhà tư bản và địa chủ còn tích lũy một phần để tái sản xuất mở rộng.
Marx đưa ra kết luận rằng trong chủ nghĩa tư bản thì tài sản tập trung trong tay một số người giàu, trong khi phần lớn dân cư chỉ có sức lao động. Do đó, việc phân phối theo tài sản là nguyên nhân chính gây ra tình trạng bất bình đăng về thu nhập. 11181686 - Nguyễn Thu Hiền 13 Chuyên đề thực tập chuyên ngành Toán kinh tế Thu hẹp bat bình dang thu nhập đã và đang trở thành những van đề lớn trong quá trình phát triển kinh tế của các quốc gia. Có nhiều nguyên nhân và các nguyên nhân có thể đan xen và ảnh hưởng vào nhau, nhưng chung quy lại thì có hai nhóm nguyên nhân chủ yếu là bất bình đăng trong phân phối thu nhập từ tài sản và từ lao động.
Bat bình dang trong phân phối thu nhập từ tài sản: Trong nền kinh tế thị trường, một phan thu nhập của các cá nhân được phân phối theo sở hữu các nguồn lực. Nó phụ thuộc vào các yếu tố sản xuất mà mỗi người có được cũng như việc định giá các yếu tô này trên thị trường cạnh tranh ma chúng có ảnh hưởng đến mức thu nhập của mỗi cá nhân. Cách phân phối như vậy được gọi là phân phối theo sở hữu các nguồn lực hay phân phối thu nhập từ tài sản. Tài sản của mỗi cá nhân là do nhiều nguồn hình thành khác nhau mà có được: - Do tài sản được thừa kế.
- Do các hành vi tiêu dùng và tiết kiệm khác nhau của các cá nhân ảnh hưởng nhiều đến sự khác biệt về của cải tích lũy được. - Do kết quả kinh doanh. Trong những lí do trên, sản xuất kinh doanh là phương thức quan trọng nhất dé tăng thu nhập và tài sản của bất kỳ cá nhân nào. Bat bình dang trong phân phối thu nhập từ lao động: Lao động là điều kiện cơ bản dé tạo ra thu nhập.
Tuy nhiên, với kỹ năng làm việc, điều kiện và đặc thù công việc khác nhau sẽ dẫn đến mức thu nhập khác nhau. Một số nguyên nhân dẫn đến bắt bình đăng thu nhập từ lao động: - Dosw khác biệt về năng lực và chuyên môn làm việc dẫn đến mức thu nhập cũng khác nhau. - Do cường độ làm việc chênh lệch cũng dẫn đến tiền lương không đồng đều. - Do khác nhau về nghề nghiệp và tính chất công việc.
- Do nhiều nguyên nhân khác nhau như sự phân biệt đối xử trong xã hội, xuất phát điểm của các cá nhân hay sự không hoàn hảo trong thị trường lao động, tác động của thiên tai và các rủi ro khác đều có liên quan đến sự khác biệt về thu nhập của các cá nhân. 11181686 — Nguyễn Thu Hiền 14 Chuyên đề thực tập chuyên ngành Toán kinh tế Sự khác biệt mang tính đền bù: Có một số công việc tương đối nhàn hạ, vui vẻ và an toàn trong khi đó lại có những công việc khác khó khăn, nhàm chán và cả nguy hiểm. Nếu mức lương là như nhau, hầu hết mọi người sẽ chọn loại công việc thứ nhất. Do đó, người lao động cần có một mức lương cao hơn dé thực hiện loại công việc thứ hai.
Sự khác biệt mang tính đền bù là khoản chênh lệch về tiền công phát sinh ra nhăm bu dap cho các diém phi tiên tệ của các công việc khác nhau. Vốn nhân lực: Day là một thuật ngữ dùng dé chỉ những kiến thức và kỹ năng mà người lao động nhận được thông qua giáo dục, đảo tạo và tích lũy kinh nghiệm. Vốn nhân lực bao gồm các kỹ năng và kiến thức tích lũy được từ giai đoạn đi học phô thông, trung học, cao dang, đại học và các chương trình đào tạo nghề. Những người lao động với nhiều vốn nhân lực sẽ kiếm được nhiều tiền hơn những lao động ít vốn nhân lực vì những lí do sau: từ góc độ cầu lao động, những người lao động có trình độ học vẫn cao thường có xu hướng có nhiều sản phẩm biên cao hơn; từ góc độ cung lao động, người lao động chỉ sẵn sàng đi học nếu việc đi học mang lại phần thưởng cho họ.
Trong thực tế, có sự phân biệt nhằm bù đắp cho chi phí của việc đi học mang tính chất đền bù giữa những lao động có trình độ học vấn và lao động không có trình độ học vấn.