CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỊNH GIÁ CỔ PHIẾU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN 1.1 Tổng quan về cổ phiếu của Ngân hàng thương mại cổ phần 1.1 Khái niệm về cổ phiếu Cổ phiếu là giấy chứng nhận cổ phần, nó xác nhận quyền sở hữu của cổ đông đối với các ngân hàng cổ phần. Luật chứng khoán Việt Nam định nghĩa cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành. Cổ phiếu có thể được phát hành dưới dạng chứng chỉ vật chất hoặc bút toán ghi sổ. Cổ phiếu thể hiện quan điểm đồng sở hữu giữa người phát hành và người đầu tư.
Khi cần huy động vốn, công ty cổ phần phát hành cổ phiếu và chấp nhận chia sẻ quyền sở hữu công ty giữa những người mua cổ phiếu. Người mua cổ phiếu, tức là các cổ đông là người góp vốn cho công ty. Với tư cách là người chủ sở hữu một phần công ty, cổ đông được hưởng các quyền đối với công ty với mức độ tương ứng với tỷ lệ cổ phiếu nắm giữ (tức là tỷ lệ góp vốn trong công ty); đồng thời khi công ty thất bại thì cổ đông phải gánh chịu thiệt hại. Đối với ngân hàng thương mại cổ phần thì người nắm giữ cổ phiếu phổ thông của ngân hàng sẽ trở thành chủ sở hữu của ngân hàng và được hưởng lợi từ kết quả kinh doanh của ngân hàng cũng như gánh chịu mọi rủi ro tổn tất khi ngân hàng kinh doanh thua lỗ phá sản.2 Phân loại cổ phiếu Theo tính chất của các quyền lợi mà cổ phiếu mang lại cho các cổ đông thì cổ phiếu được phân thành hai loại cơ bản: cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi Cổ phiếu phổ thông - Common stock: Cổ phiếu thường hay còn gọi là cổ phiếu phổ thông là loại chứng khoán đại diện cho phần sở hữu của cổ đông đối với một ngân hàng TMCP, cho phép cổ đông có quyền bỏ phiếu quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động của ngân hàng và được chia lợi nhận từ kết quả hoạt động kinh doanh thông qua cổ tức và/hoặc phần giá trị tài sản tăng thêm của ngân hàng theo LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -5- giá thị trường.
Cổ phiếu thường có các đặc trưng như: có mệnh giá (giá trị ghi trên bề mặt của chứng từ); có lãi suất không cố định và không có thời gian đáo hạn. Cổ phiếu thường mang lại những quyền lợi sau cho cổ đông: - Quyền hưởng cổ tức: cổ phiếu thường không quy định mức cổ tức tối thiểu hay tối đa mà cổ đông được nhận. Tỷ lệ cũng như hình thức chi trả cổ tức cho cổ đông tùy thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh và chính sách của công ty và do HĐQT quyết định. Như vậy, thu nhập mà cổ phiếu thường mang lại cho cổ đông là thu nhập không ổn định.
Khi công ty phải thanh lý tài sản, cổ đông thường chỉ được nhận những gì còn lại sau khi công ty đã trang trải xong tất cả các nghĩa vụ như thuế, nợ và cổ phiếu ưu đãi. - Quyền mua cổ phiếu mới: khi công ty phát hành một đợt cổ phiếu mới, các cổ đông hiện đang nắm giữ cổ phiếu thường có quyền mua trước cổ phiếu mới trong một thời gian nhất định trước khi đợt phát hành được chào bán ra công chúng. Quyền này cho phép cổ đông hiện hữu duy trì tỷ lệ sở hữu của mình trong công ty. Mỗi cổ phiếu đang nắm giữ mang lại cho cổ đông một quyền mua.
Số lượng quyền cần có để mua một cổ phiếu mới sẽ được quy định cụ thể trong từng đợt chào bán cùng với giá mua, thời hạn của quyền mua và ngày phát hành cổ phiếu mới. Cổ phiếu thường được bán theo quyền với giá thấp hơn so với giá thị trường hiện hành, các quyền có thể được tự do chuyển nhượng trên thị trường. - Quyền bỏ phiếu: cổ đông thường có quyền bỏ phiếu cho các chức vụ quản lý trong công ty, có quyền tham gia các đại hội cổ đông và bỏ phiếu quyết định các vấn đề quan trọng của công ty. Nếu không tham dự được, cổ đông thường có thể ủy quyền cho người khác thay mặt họ biểu quyết theo chỉ thị của họ hoặc tùy theo ý muốn của người được ủy quyền.
Quyền bỏ phiếu theo luật định cho phép mỗi cổ đông được bỏ số phiếu tối đa cho mỗi ứng viên bằng số cổ phiếu nắm giữ. Ví dụ nếu một cổ đông thường đang nắm giữ 100 cổ phiếu của một công ty và số ứng viên vào HĐQT là 5 người thì trong đại hội cổ đông, cổ đông này có quyền bầu cho mỗi ứng cử viên với số phiếu tối đa là 100 phiếu. Quyền bỏ phiếu tích lũy cho phép cổ đông được phân phối số phiếu bầu tùy theo ý mình, số LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -6- phiếu đó bằng số ứng cử viên nhân với lượng cổ phiếu nắm giữ. Ví dụ trong trường hợp trên, cổ đông này có thể dành tổng số 500 phiếu của mình để phân bổ tùy ý cho các ứng cử viên hoặc có thể dồn tất cả 500 phiếu bầu chỉ cho một người.
Cách này có lợi cho các cổ đông nhỏ vì họ có thể tập trung phiếu để tăng thêm giá trị quyền bỏ phiếu của mình. Cổ phiếu ưu đãi - Preferred stock: Cổ phiếu ưu đãi không cho cổ đông quyền bỏ phiếu song lại ấn định một tỷ lệ cổ tức tối đa so với mệnh giá. Trong điều kiện bình thường, cổ đông ưu đãi sẽ nhận được mức cổ tức cố định theo tỷ lệ đã ấn định. Trong trường hợp công ty không có đủ lợi nhuận để chi trả cổ tức theo tỷ lệ đó thì có thể trả theo kết quả hoạt động kinh doanh và khả năng có thể.
Tuy nhiên, một khi cổ đông ưu đãi chưa nhận được cổ tức thì cổ đông thường cũng sẽ được chi trả cổ tức. Trong trường hợp thanh lý tài sản, cổ đông ưu đãi được ưu tiên nhận lại vốn trước cổ đông thường nhưng sau trái chủ. - Cổ phiếu ưu đãi cộng dồn quy định rằng nếu chưa trả cổ tức cho cổ đông ưu đãi thì xem như công ty còn mắc nợ cho đến khi nào có đủ lợi nhuận để trả. - Cố phiếu ưu đãi cổ tức cho phép cổ đông ưu đãi được chia sẻ thành quả hoạt động của công ty khi công ty làm ăn phát đạt.
Cổ đông sẽ nhận được mức cổ tức cao hơn mức tối đa đã quy định trong trường hợp cổ tức trả cho cổ đông thường vượt quá một mức nhất định. - Cổ phiếu ưu đãi có thể chuyển đổi: loại cổ phiếu này cho phép cổ đông trong điều kiện cụ thể có thể chuyển đổi cổ phiếu ưu đãi thành cổ phiếu thường, thường là trong điều kiện công ty làm ăn phát đạt.3 Đặc điểm của cổ phiếu Cổ phiếu là chứng khoán vốn xác nhận sự góp vốn của cổ đông đối với ngân hàng cổ phần phát hành, cổ đông được chia lợi nhuận dưới dạng cổ tức khi ngân hàng kinh doanh có lãi và phải gánh chịu rủi ro mất vốn khi ngân hàng thua lỗ. Việc chi trả cổ tức cho cổ phiếu phổ thông không ổn định và tùy thuộc vào kết quả kinh doanh của ngân hàng, ngân hàng có lời nhiều thì mức chi trả cổ tức cao và ngược lại. Việc phát hành cổ phiếu được thực hiện khi thành lập mới một ngân hàng TMCP hoặc khi ngân hàng thực hiện tăng vốn điều lệ.
Khi ngân hàng TMCP phá LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -7- sản cổ đông là người cuối cùng nhận được giá trị còn lại của tài sản thanh lý ngân hàng. Cổ phiếu không có kỳ hạn và không quy định thời hạn hoàn vốn: cổ phiếu là chứng nhận việc góp vốn của cổ đông vào ngân hàng TMCP nên không có thời hạn và không quy định việc hoàn vốn. Cổ phiếu chỉ mất đi khi ngân hàng phá sản và cổ đông có thể thực hiện việc mua bán lại cổ phiếu trên thị trường. Cổ phiếu có tính thanh khoản cao: cổ phiếu có khả năng chuyển hóa thành tiền mặt dễ dàng đặc biệt là các cổ phiếu đã được niêm yết, cổ đông có thể dễ dàng mua bán lại cổ phiếu cho người khác thông qua các giao dịch trên sàn chứng khoán, khả năng giao dịch mua bán cổ phiếu thành công hay không phụ thuộc vào giá cả và mối quan hệ cung cầu của cổ phiếu trên thị trường.
Cổ phiếu có tính lưu thông: cổ phiếu có giá trị như một loại tài sản thực sự, cổ đông nắm giữ có thể thực hiện được nhiều quyền sở hữu của mình đối với cổ phiếu như cho, tặng, trao quyền thừa kế, cầm cố… 1.4 Vai trò của cổ phiếu đối với NHTMCP Do vai trò quan trọng của hệ thống ngân hàng đối với nền kinh tế nên quá trình thành lập và hoạt động của các ngân hàng chịu sự kiểm soát chặt chẽ theo quy định của pháp luật và cơ quan quản lý là Ngân hàng nhà nước. Vốn điều lệ chính là tổng nguồn vốn cổ phần mà các cổ đông đã đóng góp để thành lập nên ngân hàng cổ phần, vốn điều lệ được xác định bằng tổng số lượng cổ phiếu phổ thông đã phát hành nhân với mệnh giá của cổ phiếu. Vốn điều lệ là nguồn vốn nòng cốt và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nguồn vốn chủ sở hữu của ngân hàng cổ phần. Trong quá trình hoạt động kinh doanh thì ngân hàng sẽ gia tăng nguồn vốn bằng cách trích giữ lại một phần lợi nhuận để tăng vốn và lập các quỹ hoặc phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn, sử dụng các nguồn thặng dư vốn cổ phần… Theo quy định hiện hành thì mức vốn điều lệ để thành lập mới một Ngân hàng TMCP tại Việt Nam tối thiểu phải đạt 3.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Định giá cổ phiếu của Ngân hàng thương mại cổ phần 1.1 Khái niệm định giá cổ phiếu ngân hàng thương mại cổ phần Định giá là việc ước tính giá trị của một tài sản tại một thời điểm. Trong tài chính, định giá là quá trình ước tính giá trị của các tài sản tài chính như cổ phiếu, quyền chọn, giá trị một doanh nghiệp hoặc trách nhiệm tài chính như trái phiếu, cổ phiếu ưu đãi của công ty.