Luận văn phương pháp bàn tay nặn bột - Sinh học 11 THPT Việt Nam

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ứng dụng phương pháp bàn tay nặn bột phát triển kỹ năng nghiên cứu khoa học cho học sinh THPT trong giảng dạy Sinh học 11

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ Sư phạm Sinh học

2016

75
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Phương pháp bàn tay nặn bột phát triển kỹ năng NCKH là gì

Phương pháp bàn tay nặn bột (BTNB) là một phương pháp dạy học tích cực, lấy học sinh làm trung tâm, khuyến khích khám phá khoa học thông qua trải nghiệm thực hành. Trong bối cảnh giáo dục hiện đại, việc phát triển kỹ năng nghiên cứu khoa học (NCKH) cho học sinh trung học phổ thông (THPT) trở thành mục tiêu cốt lõi. BTNB không chỉ giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách chủ động mà còn rèn luyện tư duy phản biện, khả năng đặt vấn đề, thiết kế thí nghiệmrút ra kết luận khoa học. Theo luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Hà Phương (2016), BTNB đặc biệt hiệu quả khi áp dụng vào phần “Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở thực vật” – môn Sinh học 11 – nhờ tính thực nghiệm cao và khả năng khơi gợi ham mê khám phá. Phương pháp này bắt đầu bằng một tình huống thực tế, từ đó học sinh tự đặt câu hỏi, đưa ra giả thuyết, tiến hành thí nghiệm và trình bày kết quả – đúng theo quy trình nghiên cứu khoa học chuẩn mực. Chính vì vậy, BTNB được xem là cầu nối lý tưởng giữa nội dung học thuật và năng lực nghiên cứu thực tiễn của học sinh.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của phương pháp bàn tay nặn bột

Phương pháp bàn tay nặn bột xuất phát từ triết lý giáo dục của nhà khoa học người Pháp Georges Charpak. Đặc điểm nổi bật là học qua làm, trong đó học sinh đóng vai trò chủ thể khám phá. Mỗi bài học bắt đầu bằng một hiện tượng thực tế gây tò mò, kích thích học sinh đặt câu hỏi và tìm cách trả lời thông qua thí nghiệm. Quá trình này giúp hình thành kỹ năng quan sát, thu thập dữ liệu, phân tích kết quảgiao tiếp khoa học – những thành tố cốt lõi của nghiên cứu khoa học.

1.2. Mối liên hệ giữa BTNB và phát triển kỹ năng NCKH

BTNB không chỉ truyền đạt kiến thức mà còn rèn luyện phương pháp tư duy khoa học. Học sinh được hướng dẫn xây dựng giả thuyết, thiết kế phương án thí nghiệm, kiểm chứng và điều chỉnh. Điều này giúp các em làm quen với quy trình nghiên cứu chuẩn, từ đó hình thành thói quen tư duy phản biệnsáng tạo. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hà Phương (2016) chỉ ra rằng học sinh tham gia BTNB có xu hướng tự tin hơn trong việc đặt câu hỏi và chủ động hơn trong tìm kiếm thông tin.

II. Thách thức khi dạy kỹ năng NCKH trong môn Sinh học THPT

Dù tiềm năng của môn Sinh học rất lớn trong việc phát triển kỹ năng nghiên cứu khoa học, thực tế dạy học tại nhiều trường THPT vẫn chủ yếu dựa trên phương pháp thuyết giảng truyền thống. Học sinh thường thụ động tiếp thu, ít có cơ hội thực hành hoặc đặt câu hỏi phản biện. Điều này dẫn đến khoảng cách lớn giữa mục tiêu chương trìnhthực tiễn giảng dạy. Như luận văn của Nguyễn Thị Hà Phương (2016) chỉ rõ, nội dung “Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở thực vật” chứa nhiều hiện tượng sinh học có thể khơi gợi tò mò khoa học, nhưng giáo viên thường bỏ qua cơ hội này do thiếu thời gian, thiết bị hoặc phương pháp tổ chức hoạt động hiệu quả. Ngoài ra, nhiều giáo viên chưa được đào tạo bài bản về phương pháp dạy học tích cực, đặc biệt là BTNB, dẫn đến việc triển khai còn lúng túng. Hệ quả là học sinh mất hứng thú, khó hình thành tư duy khoa học, và kỹ năng NCKH gần như không được rèn luyện. Đây là thách thức lớn cần được giải quyết thông qua đổi mới phương pháp dạy họctăng cường năng lực giáo viên.

2.1. Hạn chế của phương pháp dạy học truyền thống

Phương pháp thuyết giảng một chiều khiến học sinh trở thành người nghe thụ động. Kiến thức được truyền đạt dưới dạng kết luận có sẵn, không qua quá trình khám phá và kiểm chứng. Điều này làm suy giảm tính tò mò, sáng tạokhả năng tự học – những yếu tố nền tảng cho nghiên cứu khoa học. Nhiều học sinh không biết cách đặt câu hỏi khoa học hoặc thiết kế thí nghiệm đơn giản.

2.2. Rào cản trong việc triển khai BTNB tại trường phổ thông

Các rào cản bao gồm: thiếu thiết bị thí nghiệm, thời gian tiết học hạn chế, chưa có tài liệu hướng dẫn chi tiết cho giáo viên, và áp lực thi cử khiến giáo viên ưu tiên truyền đạt kiến thức hơn là rèn luyện kỹ năng. Ngoài ra, đánh giá kết quả học tập vẫn chủ yếu dựa trên bài kiểm tra lý thuyết, không phản ánh được năng lực nghiên cứu thực tế của học sinh.

III. Cách vận dụng phương pháp bàn tay nặn bột để phát triển kỹ năng NCKH

Vận dụng phương pháp bàn tay nặn bột trong dạy học Sinh học 11 đòi hỏi quy trình thiết kế bài học rõ ràng, bám sát chuẩn kỹ năng nghiên cứu khoa học. Theo Nguyễn Thị Hà Phương (2016), một bài dạy BTNB hiệu quả gồm 5 bước: (1) Tạo tình huống có vấn đề; (2) Học sinh đặt câu hỏi và đưa ra giả thuyết; (3) Thiết kế và tiến hành thí nghiệm; (4) Phân tích kết quả và rút ra kết luận; (5) Trình bày, thảo luận và phản biện. Ví dụ, khi dạy về “quang hợp”, giáo viên có thể đặt câu hỏi: “Tại sao cây để trong bóng tối lại vàng lá?” – từ đó học sinh tự thiết kế thí nghiệm so sánh cây ở điều kiện sáng và tối. Quá trình này giúp các em rèn luyện kỹ năng đặt vấn đề, thiết kế thí nghiệm có đối chứng, quan sát hiện tượng, và giao tiếp khoa học. Mỗi bước đều được hướng dẫn nhưng không áp đặt, đảm bảo tính tự chủsáng tạo của học sinh. Đặc biệt, giáo viên đóng vai trò trợ giúp, không phải người cung cấp đáp án.

3.1. Quy trình thiết kế bài học theo phương pháp BTNB

Mỗi bài học BTNB cần bắt đầu từ hiện tượng thực tế gần gũi, có khả năng gây tò mò khoa học. Giáo viên chuẩn bị câu hỏi mở, dụng cụ thí nghiệm đơn giản, và hướng dẫn an toàn. Học sinh làm việc theo nhóm, ghi chép nhật ký thí nghiệm, và trình bày kết quả bằng sơ đồ, biểu đồ hoặc thuyết trình. Quy trình này đảm bảo tích hợp đa kỹ năng: quan sát, đo lường, phân tích, hợp tác và trình bày.

3.2. Ví dụ minh họa trong phần Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở thực vật

Trong bài “Vai trò của nước và khoáng”, học sinh có thể thí nghiệm: “Cây thiếu nitơ có biểu hiện gì?”. Các em tự trồng cây thủy canh với và không có nitơ, theo dõi trong 1-2 tuần, ghi nhận sự thay đổi về màu lá, chiều cao. Qua đó, học sinh rút ra kết luận thực nghiệm, không học thuộc lý thuyết. Đây là cách hiệu quả để phát triển kỹ năng NCKH một cách tự nhiên và bền vững.

IV. Kết quả thực nghiệm sư phạm khi áp dụng BTNB trong Sinh học 11

Thực nghiệm sư phạm do Nguyễn Thị Hà Phương (2016) tiến hành tại Trường THPT Vinschool cho thấy hiệu quả rõ rệt của phương pháp bàn tay nặn bột trong việc phát triển kỹ năng nghiên cứu khoa học. Học sinh tham gia lớp thực nghiệm không chỉ hiểu sâu kiến thức mà còn tự tin hơn khi trình bày ý tưởng, chủ động đặt câu hỏi, và thiết kế thí nghiệm đơn giản. Kết quả bài kiểm tra kỹ năng NCKH (bao gồm khả năng đặt giả thuyết, thiết kế thí nghiệm, phân tích dữ liệu) cho thấy điểm trung bình của nhóm thực nghiệm cao hơn nhóm đối chứng từ 15–20%. Ngoài ra, thái độ học tập cũng cải thiện đáng kể: 85% học sinh cho biết “rất thích” hoặc “thích” các tiết học BTNB vì được tự làm, tự khám phá. Giáo viên cũng nhận xét học sinh hợp tác tốt hơn, tư duy logic rõ ràng hơn, và ít phụ thuộc vào giáo viên. Những kết quả này chứng minh BTNB là giải pháp khả thi để đổi mới dạy học theo hướng phát triển năng lực, đặc biệt là năng lực nghiên cứu khoa học.

4.1. So sánh kết quả giữa nhóm thực nghiệm và đối chứng

Nhóm thực nghiệm (áp dụng BTNB) đạt điểm trung bình 7.8 trong bài kiểm tra kỹ năng NCKH, trong khi nhóm đối chứng (dạy truyền thống) chỉ đạt 6.2. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0.05), cho thấy hiệu quả rõ rệt của phương pháp. Đặc biệt, kỹ năng thiết kế thí nghiệm có đối chứngrút ra kết luận từ dữ liệu được cải thiện mạnh nhất.

4.2. Phản hồi từ học sinh và giáo viên

Học sinh đánh giá BTNB giúp các em “hiểu bài sâu hơn”, “nhớ lâu hơn”, và “muốn tìm hiểu thêm”. Giáo viên nhận thấy học sinh ít ỷ lại, tích cực tham gia, và biết cách tranh luận khoa học. Nhiều em lần đầu tiên biết cách ghi nhật ký thí nghiệm hoặc vẽ biểu đồ minh họa kết quả – những kỹ năng nền tảng cho nghiên cứu khoa học sau này.

V. Hướng phát triển phương pháp BTNB trong giáo dục phổ thông

Để phương pháp bàn tay nặn bột trở thành xu hướng dạy học phổ biến, cần có sự hỗ trợ đồng bộ từ nhiều phía. Trước hết, chương trình đào tạo giáo viên cần tích hợp BTNB như một nội dung bắt buộc, kèm theo tài liệu hướng dẫn chi tiết và gói học liệu số. Thứ hai, cơ sở vật chất trường học cần được đầu tư: phòng thí nghiệm mini, dụng cụ đơn giản, và không gian học tập mở. Thứ ba, hình thức đánh giá cần đổi mới: bổ sung bài tập thực hành, dự án nghiên cứu nhỏ, và hồ sơ năng lực để phản ánh đúng kỹ năng NCKH. Cuối cùng, cần xây dựng cộng đồng giáo viên BTNB để chia sẻ kinh nghiệm, học liệu và sáng kiến dạy học. Như Nguyễn Thị Hà Phương (2016) đề xuất, BTNB không chỉ là phương pháp dạy học mà còn là triết lý giáo dục – nơi học sinh được tôn trọng như những nhà khoa học nhí, được sai, được thử, và được khám phá. Trong bối cảnh giáo dục STEM và phát triển năng lực thế kỷ 21, BTNB chính là chìa khóa để mở cánh cửa tư duy khoa học cho thế hệ trẻ.

5.1. Đề xuất cho chính sách giáo dục và đào tạo giáo viên

Các trường sư phạm nên đưa BTNB vào chương trình đào tạo chính quy, tổ chức hội thảo chuyên đề, và xây dựng ngân hàng học liệu mở. Bộ Giáo dục có thể khuyến khích qua cuộc thi sáng tạo khoa học dành cho học sinh THPT, trong đó BTNB là phương pháp được ưu tiên.

5.2. Tích hợp BTNB với công nghệ và giáo dục STEM

Kết hợp BTNB với công nghệ số (video thí nghiệm, mô phỏng ảo, ứng dụng thu thập dữ liệu) giúp mở rộng khả năng nghiên cứu. Đồng thời, BTNB là nền tảng lý tưởng cho giáo dục STEM, nơi học sinh giải quyết vấn đề thực tiễn bằng kiến thức liên môn – từ đó phát triển toàn diện kỹ năng NCKH.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/03/2026
Luận văn thạc sĩ vận dụng phương pháp bàn tay nặn bột nhằm phát triển kĩ năng nghiên cứu khoa học cho học sinh trong dạy học phần chuyển hóa vật chất và năng lượng ở thực vật sinh học 11 trung học phổ thông

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1. VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP BẢN TAY NẬN BỘT NHẢM PHAT TRIEN Ki NANG NGHIÊN CỨU KHOA HOC 2. Phân tích những tiểm năng phát triển kỉ năng nghiên cứu qua đạy học phân. Chuyển hóa vật chả và nắng lượng ở thục vật, 8inh học 11THPT.

Chuẩn kiến thức, kì năng phân Chuyến hóa vật chất và năng lượng ở thực vật, `) sỉ nn. Một số nội địng trong phan chuyển hóa vật chất và nắng lượng ở thục vật, Sinh học 11, THET có thể thiết kẻ dạy học theo phương pháp bản tay nặn bột.48 ii tỏ mỏ, ham mê khám phá khoa học, tạo tiên dễ phát triển tính sảng tạo vả tư duy khoa học. Những ý tưởng tế chức hoạt đông nghiên cứu cho HS nhăm đạt được mục tiêu dạy học đã xuất hiện cách day hon 100 nim trong tác phẩm của các nhả phương, phap hoc nh Gerd A. va nha tự nhiên hạc Gecsly T.

và đã có rất nhiêu những công trình nghiên cứu về vẫn để hoại động nghiên cúu của HS.Tuy nhiên, hiển nay vẫn để phát triển kĩ năng nghiên cửu khoa học của HS trong quá trình đạy học Sinh học vẫn chưa được nghiên cứu đây đủ. Ở nhiều trường Phố thông. dạy học Sinh học vẫn được tiến banh theo phương pháp thuyết giảng, HS hết suc thy déng trong việc tiếp thu kiến thức. Nhằm giải quyết phần nao van dé mau thuẫn giữa tiêm năng to lớn của nội dung môn Sinh học đổi việc phát triển kĩ năng, trghiên cứu của H8 với thục tế dạy học Sinh học không theo định hướng nghiên cứu tôi đã chon dé tai: “Wan dụng phương pháp bùn tay nặn bột nhằm phát triển ki măng nghiên cửu khoa học cho ILS trong day hoc phan "Chuyén héu vat chat va năng lugug thưạc vật" Sink hoc 11, Trung học phé thing” 2.

Mục tiêu nghiên cửu Xác định được quy trình thiết kế và vận đụng phương pháp bàn tay nặn bột trong dạy học Sinh học 11 nhằm phát triển kĩ năng nghiên cửu khoa học của HS. Các nhiệm vụ nghiên cứu ~ Nghiên cứu hệ thông cơ sở lý luận vẻ phương pháp phát triển kĩ năng nghiên cứu của HS - Nghiên cứu ý nghĩa phương pháp bàn tay nặn bột và khả năng áp đụng trong dạy học Sinh học nhằm phát triển kha nang nghiên cím của HS -Phân tích chương trình và sách giáo khoa Sinh hợc 11 THPT phần *Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở thục vật"và làm rõ những khả năng phát triển kĩ năng nghiên cứu của học - Thiết kế bài dạy có sử đụng phương pháp bản tay nặn bột trong dạy học phản "Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở thực vật", Sinh học 11, TIIPT. ~ Tiến hãnh thực nghiệm sự phạm lại trưởng THPT Vinschool. - Tổng hợp, phân tích, xử lý và biểu diễn kết quả thực nghiệm sư phạm.

Khách thé, đỗi tượng, phạm vi nghiên cứu DANH MUC CAC HIN Hình 3. Biéu đô điểm TB sau thực nghiệm giữa lớp TN và ĐƠ 80 PHANI. MO DAU 1, L¥ do chon dé tai Đất nước ta đang bước vào giai đoạn cêng nghiệp hoá, hiện đại hoá đất ước với mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam sẽ trở thánh một nước công nghiệp, hội nhập với cộng đồng qnắc tế. Dăng ta đã xác định nhân tô quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đái nước là nguồn nhân lực đổi dào với chất lượng cao được dào tạo trong một hệ thông giáo dục tiên tiền, hiệu quả.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI vẻ đối mới căn bản, toản diện giáo dục và đảo lạo đã chỉ ra: “Phát triển giáo dục và đảo tạo là năng cao đân tri, dao tạo nhân lực, bêi dưỡng nhân tải. Chuyển mạnh quá trình giảo dục từ chủyều trang bị kiên thức sang phát triển toản điện năng lực và phẩm chất người học”. Vi vậy, việc bởi dưỡng nẵng lực nổi chưng và kĩ năngnghiên cứu khoa học nói riêngcho H8 lá một trong những yêu cầu cấp thiết nhằm trang bị cho các em các năng hye ty hoc tap, tự nghiên cứuđẻ làm chủ tri thức, làm chủ cuộc sống, thích mg được với những thay dỗi, với tiễn trình phát triển nhanh chóng của nhân loại. “trên thực tế, các kiến thủc trong sách Sinh học trong sách giáo khoa được tiên soạn đưới đạng có sẵn mà không đòi hỏi HS phải sổ gắng tìm kiếm để mà anang kiên thức và có thể cỏ câu trả lời cho những vẫn dẻ cẩn quan tâm.

Chỉnh vi vậy, một trong những điều kiện quan trọng dé nang cao hiệu quả của quá trình dạy học là phải tổ chức hoạt động nghiên cửu và phát triển kĩ năng nghiên cứu nhằm giúp HS không chỉ đáp ứng dược các yêu cần của chương trình đào tao, ma edn phat triển khả năng sáng tạo, tu duy lồgie, tạo động lực học tập. Dễ hoạt hỏa quá trình dạy học hàng loạt các phương pháp, công nghệ dạy học mới, tích cực đã ra đời như dạy học nẻu vấn đẻ, đạy học tỉnh huống, dạy hoc theo Mô đua, dạy hoc hợp tác. Cuấi những năm 90 của thế kỉ XX, xuất hiện một phương pháp day hoe tích. cực dựa trên những hoạt động mang tỉnh chất nghiên cứa, áp dụng để dạy học các môn khoa học tự nhiên, dỏ là phương pháp “Bản tay nặn bột” khởi nguồn từ phong, trào “Bản tay nặn bột” đo giáo sự lý người Pháp Georges Charpak khởi xướng.

Phương phản Bản lay nặn bội. chú trọng đến việc hình thành kiến thức cho HS qua tiển hảnh thi nghiệm, quan sát, nghiền cứu tải liệu hay điều tra, để tự ban than HS tâm ra lời giải đáp cho các văn để được đất ra trong cuộc sống. Từ đó kích thích tính PHANI. MO DAU 1, L¥ do chon dé tai Đất nước ta đang bước vào giai đoạn cêng nghiệp hoá, hiện đại hoá đất ước với mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam sẽ trở thánh một nước công nghiệp, hội nhập với cộng đồng qnắc tế.

Dăng ta đã xác định nhân tô quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đái nước là nguồn nhân lực đổi dào với chất lượng cao được dào tạo trong một hệ thông giáo dục tiên tiền, hiệu quả. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI vẻ đối mới căn bản, toản diện giáo dục và đảo lạo đã chỉ ra: “Phát triển giáo dục và đảo tạo là năng cao đân tri, dao tạo nhân lực, bêi dưỡng nhân tải. Chuyển mạnh quá trình giảo dục từ chủyều trang bị kiên thức sang phát triển toản điện năng lực và phẩm chất người học”. Vi vậy, việc bởi dưỡng nẵng lực nổi chưng và kĩ năngnghiên cứu khoa học nói riêngcho H8 lá một trong những yêu cầu cấp thiết nhằm trang bị cho các em các năng hye ty hoc tap, tự nghiên cứuđẻ làm chủ tri thức, làm chủ cuộc sống, thích mg được với những thay dỗi, với tiễn trình phát triển nhanh chóng của nhân loại.

“trên thực tế, các kiến thủc trong sách Sinh học trong sách giáo khoa được tiên soạn đưới đạng có sẵn mà không đòi hỏi HS phải sổ gắng tìm kiếm để mà anang kiên thức và có thể cỏ câu trả lời cho những vẫn dẻ cẩn quan tâm. Chỉnh vi vậy, một trong những điều kiện quan trọng dé nang cao hiệu quả của quá trình dạy học là phải tổ chức hoạt động nghiên cửu và phát triển kĩ năng nghiên cứu nhằm giúp HS không chỉ đáp ứng dược các yêu cần của chương trình đào tao, ma edn phat triển khả năng sáng tạo, tu duy lồgie, tạo động lực học tập. Dễ hoạt hỏa quá trình dạy học hàng loạt các phương pháp, công nghệ dạy học mới, tích cực đã ra đời như dạy học nẻu vấn đẻ, đạy học tỉnh huống, dạy hoc theo Mô đua, dạy hoc hợp tác. Cuấi những năm 90 của thế kỉ XX, xuất hiện một phương pháp day hoe tích.

cực dựa trên những hoạt động mang tỉnh chất nghiên cứa, áp dụng để dạy học các môn khoa học tự nhiên, dỏ là phương pháp “Bản tay nặn bột” khởi nguồn từ phong, trào “Bản tay nặn bột” đo giáo sự lý người Pháp Georges Charpak khởi xướng. Phương phản Bản lay nặn bội. chú trọng đến việc hình thành kiến thức cho HS qua tiển hảnh thi nghiệm, quan sát, nghiền cứu tải liệu hay điều tra, để tự ban than HS tâm ra lời giải đáp cho các văn để được đất ra trong cuộc sống. Từ đó kích thích tính tỏ mỏ, ham mê khám phá khoa học, tạo tiên dễ phát triển tính sảng tạo vả tư duy khoa học.

Những ý tưởng tế chức hoạt đông nghiên cứu cho HS nhăm đạt được mục tiêu dạy học đã xuất hiện cách day hon 100 nim trong tác phẩm của các nhả phương, phap hoc nh Gerd A. va nha tự nhiên hạc Gecsly T. và đã có rất nhiêu những công trình nghiên cứu về vẫn để hoại động nghiên cúu của HS.Tuy nhiên, hiển nay vẫn để phát triển kĩ năng nghiên cửu khoa học của HS trong quá trình đạy học Sinh học vẫn chưa được nghiên cứu đây đủ. Ở nhiều trường Phố thông.

dạy học Sinh học vẫn được tiến banh theo phương pháp thuyết giảng, HS hết suc thy déng trong việc tiếp thu kiến thức. Nhằm giải quyết phần nao van dé mau thuẫn giữa tiêm năng to lớn của nội dung môn Sinh học đổi việc phát triển kĩ năng, trghiên cứu của H8 với thục tế dạy học Sinh học không theo định hướng nghiên cứu tôi đã chon dé tai: “Wan dụng phương pháp bùn tay nặn bột nhằm phát triển ki măng nghiên cửu khoa học cho ILS trong day hoc phan "Chuyén héu vat chat va năng lugug thưạc vật" Sink hoc 11, Trung học phé thing” 2. Mục tiêu nghiên cửu Xác định được quy trình thiết kế và vận đụng phương pháp bàn tay nặn bột trong dạy học Sinh học 11 nhằm phát triển kĩ năng nghiên cửu khoa học của HS. Các nhiệm vụ nghiên cứu ~ Nghiên cứu hệ thông cơ sở lý luận vẻ phương pháp phát triển kĩ năng nghiên cứu của HS - Nghiên cứu ý nghĩa phương pháp bàn tay nặn bột và khả năng áp đụng trong dạy học Sinh học nhằm phát triển kha nang nghiên cím của HS -Phân tích chương trình và sách giáo khoa Sinh hợc 11 THPT phần *Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở thục vật"và làm rõ những khả năng phát triển kĩ năng nghiên cứu của học - Thiết kế bài dạy có sử đụng phương pháp bản tay nặn bột trong dạy học phản "Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở thực vật", Sinh học 11, TIIPT.

~ Tiến hãnh thực nghiệm sự phạm lại trưởng THPT Vinschool. - Tổng hợp, phân tích, xử lý và biểu diễn kết quả thực nghiệm sư phạm. Khách thé, đỗi tượng, phạm vi nghiên cứu PHANI.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ