Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG TRONG LUẬT HÌNH SỰ 1. KHÁI NIỆM, Ý NGHĨA VÀ CÁC ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG 1. Khái niệm phòng vệ chính đáng Thực tiễn xét xử cho thấy, để tạo cơ sở pháp lý cho cán bộ có trách nhiệm trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và mỗi ngƣời dân trƣớc hết tự bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình và của ngƣời khác, cũng nhƣ của xã hội, pháp luật hình sự bất kỳ quốc gia nào cũng quy định chế định phòng vệ chính đáng và pháp luật hình sự Việt Nam cũng đã quy định rõ ràng vấn đề này. Một mặt, để khuyến khích, động viên công dân hãy làm việc có ích, có lợi cho xã hội, nhƣng mặt khác, đó cũng chính là góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm, thực hiện quyền dân chủ của công dân.
Trƣớc khi ban hành Bộ luật hình sự Việt Nam đầu tiên năm 1985, chúng ta đã đề cập đến vấn đề này để góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả bằng Luật số 103/SL ngày 20/5/1957 và Bản tổng kết số 452/SL ngày 10/6/1970 của Tòa án nhân dân tối cao cũng đề cập đến quyền tự do thân thể, trong đó cho phép ngƣời thi hành công vụ dùng vũ khí và việc giết ngƣời do vƣợt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Sau đó, Tòa án nhân dân tối cao đã tổng kết thực tiễn xét xử và ban hành Chỉ thị số 07/CT ngày 22/12/1983 về việc xét xử các hành xâm phạm tính mạng hoặc sức khỏe của ngƣời khác do vƣợt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc trong khi thi hành công vụ và tại Phần II Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 05/01/1986 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao “Về hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự năm 1985” đã đề cập đến ở một chừng mực nhất định những vấn đề chủ yếu có 9 z liên quan đến chế định phòng vệ chính đáng. Phân tích những luận điểm khoa học trong các văn bản này có thể nhận thấy quan điểm về phòng vệ chính đáng của thực tiễn xét xử nƣớc ta thời kỳ này bao gồm một số nội dung cơ bản đƣợc GS. Lê Văn Cảm tổng kết nhƣ sau [7]: Một là, bốn điều kiện để hành vi không bị coi là tội phạm trong trƣờng hợp phòng vệ chính đáng: a) Mức độ nguy hiểm cho xã hội đáng kể của hành vi xâm hại; b) Hành vi xâm hại cần phải đang tồn tại và chƣa kết thúc; c) Hành vi phòng vệ cần phải đƣợc thực hiện bằng việc gây thiệt hại cho chính ngƣời có hành vi xâm hại, chứ không phải là cho ngƣời thứ ba và; d) Cƣờng độ của hành vi phòng vệ cần phải tƣơng xứng với cƣờng độ của hành vi xâm hại.
Hai là, phòng vệ tƣởng tƣợng là việc gây thiệt hại cho ngƣời khác mà ngƣời phòng vệ tƣởng lầm rằng ngƣời khác ấy thực hiện sự xâm hại nguy hiểm cho xã hội đối với mình. Ba là, vƣợt quá giới hạn của phòng vệ chính đáng là hành vi nguy hiểm cho xã hội đƣợc thực hiện trong trƣờng hợp thiếu một trong bốn điều kiện đã nêu trên và đặc biệt là, khi hành vi phòng vệ rõ ràng là quá đáng không tƣơng xứng với hành vi xâm hại. Sau đó, đến khi pháp điển hóa lần thứ nhất, khoản 1 Điều 13 Bộ luật hình sự năm 1985 đã ghi nhận khái niệm phòng vệ chính đáng nhƣ sau: Phòng vệ chính đáng là hành vi vì bảo vệ lợi ích của nhà nước, của tập thể, bảo vệ lợi ích chính đáng của mình, của người khác mà chống trả lại một cách tương xứng người có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên. Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm [39].
Nhƣ vậy, định nghĩa trên đây là định nghĩa pháp lý có tính khoa học thể 10 z hiện rõ nét bản chất chính trị, xã hội và pháp lý của phòng vệ chính đáng. Nó là cơ sở khoa học thống nhất cho việc xác định một hành vi đƣợc coi là thực hiện trong phòng vệ chính đáng, hƣớng cho mỗi công dân thực hiện quyền phòng vệ của mình đúng pháp luật, qua đó phát huy tính tích cực chủ động của mình. Thời gian qua thực tiễn áp dụng điều luật phòng vệ chính đáng trong việc giải quyết các vụ án hình sự có liên quan đến việc áp dụng điều luật gặp khó khăn trong việc xác định thế nào là sự “chống trả lại một cách tương xứng người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên”. Trong đó thực tế rất khó xác định sự tƣơng xứng giữa hai hành vi (hành vi xâm hại và hành vi phòng vệ) đƣợc thực hiện bởi hai chủ thể khác nhau và có động cơ, mục đích trái ngƣợc nhau nhƣ vậy.
Do đó, việc quy định trong điều luật từ “tương xứng” dễ dẫn đến cách hiểu cơ học, máy móc - ngƣời phạm tội sử dụng công cụ, phƣơng tiện, phƣơng pháp gì thì ngƣời phòng vệ cũng phải sử dụng công cụ, phƣơng tiện tƣơng tự, hoặc có nghĩa thiệt hại do phòng vệ gây ra cho ngƣời có hành vi xâm hại phải ngang bằng hoặc phải nhỏ hơn thiệt hại mà ngƣời xâm hại gây ra. Tuy nhiên, sau khoảng thời gian thực hiện và áp dụng, Bộ luật hình sự năm 1985 đã thể hiện những yếu tố không còn phù hợp với thực tiễn vì thế mà các nhà khoa học và các nhà làm luật thấy rằng cần thiết phải có một Bộ luật khác thay thế để phù hợp với thực tế. Về sau, để có điều luật mới thay thế Bộ luật hình sự năm 1985 thì khoản 1 Điều 15 Bộ luật hình sự năm 1999 phát triển thêm và mang tính kế thừa tích cực của khoản 1 Điều 13 Bộ luật hình sự năm 1985. Do đó, để khắc phục những bất cập thực tế trên, trong Bộ luật hình sự năm 1999 có quy định khái niệm phòng vệ chính đáng tại khoản 1 Điều 15 với một số sự thay đổi nhất định để mở ra một cách hợp lý hơn cho những cán bộ tƣ pháp hình sự, những ngƣời làm công tác điều tra, truy tố, xét xử trong việc áp dụng điều luật vào từng trƣờng hợp cụ thể, cũng nhƣ tạo ra một tâm lý tích cực hơn, chủ 11 z động hơn khuyến khích mọi công dân tham gia vào việc đấu tranh phòng, chống tội phạm: Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.
Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm [40]. Theo đó, xét về mặt ngôn ngữ thì trong khái niệm phòng vệ chính đáng của Bộ luật hình sự năm 1999 đã thay đổi một số cụm từ so với khái niệm phòng vệ chính đáng trong Bộ luật hình sự năm 1985, nhƣ thay cụm từ “của tập thể” bằng “của tổ chức” hay “bảo vệ lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác” bằng cụm từ “bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác”, và đặc biệt các nhà làm luật nƣớc ta trong lần pháp điển hóa luật hình sự năm 1999 đã thay thế cụ từ “tương xứng” bằng cụm từ “cần thiết”. Bởi vì, nếu sử dụng cụm từ “tương xứng” dễ dẫn đến cách hiểu không đúng, máy móc là: Người phạm tội sử dụng công cụ, phương tiện, phương pháp gì, thì người phòng vệ cũng phải sử dụng công cụ, phương tiện, pháp pháp tương tự, hoặc có nghĩa là thiệt hại do người phòng vệ gây ra cho người có hành vi xâm hại phải ngang bằng hoặc nhỏ hơn thiệt hại mà người xâm hại gây ra hoặc đe dọa gây ra. cũng như chưa xuất phát từ cái nhìn của người trong cuộc.
Nhƣ vậy, một số sửa đổi, bổ sung cơ bản trên có ý nghĩa thực tiễn quan trọng nhằm góp phần phát huy tính chủ động trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, điều này rất có ý nghĩa trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, ngƣời phòng vệ trên cơ sở tự đánh giá về tính chất quan hệ xã hội bị xâm hại, cƣờng độ của sự tấn công cũng nhƣ tổng hợp các yếu tố khác nhƣ thời gian, không 12 z gian, địa điểm… để quyết định biện pháp chống trả cũng nhƣ mức độ chống trả lại ngƣời có hành vi xâm hại các khách thể cần bảo vệ một cách mà họ cho là “cần thiết” nhằm ngăn chặn, đẩy lùi hành vi xâm hại, bảo vệ khách thể đó. Phòng vệ chính đáng xét về mặt hình thức đã có đủ các dấu hiệu của tội phạm nhƣng các nhà làm luật lại không coi phòng vệ chính đáng là tội phạm. Thiệt hại do ngƣời phòng vệ gây ra đối với ngƣời có hành vi xâm hại trong phòng vệ chính đáng chính là nhằm bảo vệ lợi ích của nhà nƣớc, của tập thể (của tổ chức)… phù hợp với lợi ích yêu cầu chung của toàn xã hội. Do vậy phòng vệ chính đáng không những không bị coi là tội phạm mà còn đƣợc nhà nƣớc và xã hội khuyến khích thực hiện.
Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm mà là hành vi tự vệ trƣớc sự tấn công trái pháp luật, nhằm ngăn ngừa, hạn chế hậu quả tác hại do sự tấn công trái pháp luật gây ra hoặc đe dọa thực tế gây ra. Hành vi phòng vệ chính đáng không mang tính chất nguy hiểm cho xã hội mà nó hoàn toàn phù hợp với xã hội thể hiện rõ ý thức trách nhiệm của công dân góp phần vào việc bảo vệ và củng cố trật tự xã hội. Cũng chính vì thế mà pháp luật cho phép ngƣời phòng vệ có thể thực hiện sự chống trả lại tất cả những hành vi xâm phạm tới những quan hệ xã hội đƣợc Bộ luật hình sự bảo vệ, không chỉ riêng gì quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời phòng vệ nói riêng. Phòng vệ chính đáng là quyền chứ không phải nghĩa vụ pháp lý của công dân.
Vì thế, pháp luật cho phép mọi công dân chủ động trong việc thực hiện quyền phòng vệ chính đáng của mình. Về vấn đề này, GS. Nguyễn Ngọc Hòa đã viết: Người phòng vệ mặc dù gây thiệt hại cho kẻ tấn công nhưng đã sử dụng một quyền, hơn nữa đã thi hành một bổn phận đối với xã hội.