Phòng Vệ Chính Đáng và Các Tội Phạm Vượt Quá Giới Hạn Theo Luật Hình Sự Việt Nam

Luận văn thạc sĩ phân tích phòng vệ chính đáng và các tội phạm vượt quá giới hạn theo luật hình sự Việt Nam, cung cấp cái nhìn sâu sắc.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ luật học

2014

121
14
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG TRONG LUẬT HÌNH SỰ

1.1. KHÁI NIỆM, Ý NGHĨA VÀ CÁC ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG

1.2. KHÁI QUÁT LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ SAU CÁCH MẠNG THÁNG 8 NĂM 1945 ĐẾN TRƯỚC KHI BAN HÀNH BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VỀ PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG

1.3. QUY ĐỊNH VỀ PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

1.3.1. Bộ luật hình sự Liên bang Nga

1.3.2. Bộ luật hình sự nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa

1.3.3. Bộ luật hình sự Cộng hòa Liên bang Đức

1.3.4. Bộ luật hình sự Vương quốc Thụy Điển

2. CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG VÀ CÁC TỘI PHẠM DO VƯỢT QUÁ GIỚI HẠN PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG

2.1. QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG

2.1.1. Các điều kiện của phòng vệ chính đáng

2.1.2. Trách nhiệm hình sự do vượt quá giới hạn của phòng vệ chính đáng

2.1.3. Phân biệt phòng vệ chính đáng với một số trường hợp đặc biệt khác

2.2. QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ CÁC TỘI PHẠM DO VƯỢT QUÁ GIỚI HẠN PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG

2.2.1. Khách thể của hành vi xâm hại và hành vi phòng vệ

2.2.2. Mặt khách quan của phòng vệ chính đáng

2.2.3. Mặt chủ quan của hành vi xâm hại và hành vi phòng vệ

2.2.4. Chủ thể của hành vi xâm hại và hành vi phòng vệ

2.3. VẤN ĐỀ ĐỊNH TỘI DANH VÀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI TRƯỜNG HỢP PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG VÀ CÁC TỘI PHẠM DO VƯỢT QUÁ GIỚI HẠN PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG

2.3.1. Vấn đề định tội danh

2.3.2. Vấn đề quyết định hình phạt

3. CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG, CÁC TỘI PHẠM DO VƯỢT QUÁ GIỚI HẠN PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ

3.1. THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG VÀ CÁC TỘI PHẠM DO VƯỢT QUÁ GIỚI HẠN PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG

3.1.1. Một số tồn tại trong thực tiễn xét xử

3.1.2. Các nguyên nhân cơ bản

3.2. SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG

3.2.1. Về lập pháp

3.2.2. Về thực tiễn

3.3. NHỮNG KIẾN NGHỊ

3.3.1. Nội dung cụ thể

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Khái Niệm Phòng Vệ Chính Đáng Tổng Quan Ý Nghĩa

Để tạo cơ sở pháp lý cho công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và bảo vệ quyền lợi chính đáng của công dân, pháp luật hình sự quy định chế định phòng vệ chính đáng. Điều này khuyến khích công dân tham gia vào các hoạt động có ích cho xã hội và góp phần vào cuộc chiến chống tội phạm. Trước khi có Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985, vấn đề này đã được đề cập trong Luật số 103/SL ngày 20/5/1957 và Bản tổng kết số 452/SL ngày 10/6/1970 của Tòa án nhân dân tối cao, liên quan đến quyền tự do thân thể và việc sử dụng vũ khí. Tòa án nhân dân tối cao cũng đã ban hành Chỉ thị số 07/CT ngày 22/12/1983 về việc xét xử các hành vi xâm phạm tính mạng hoặc sức khỏe do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 05/01/1986 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cũng đề cập đến các vấn đề liên quan đến chế định phòng vệ chính đáng.

1.1. Định nghĩa phòng vệ chính đáng theo pháp luật Việt Nam

Phòng vệ chính đáng được hiểu là hành vi của một người nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, chống lại một hành vi xâm hại trái pháp luật đang diễn ra hoặc có nguy cơ xảy ra. Hành vi phòng vệ phải tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại. Theo GS. Lê Văn Cảm, có bốn điều kiện để hành vi không bị coi là tội phạm trong trường hợp phòng vệ chính đáng.

1.2. Ý nghĩa của phòng vệ chính đáng trong xã hội hiện đại

Phòng vệ chính đáng có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đồng thời góp phần vào công tác phòng, chống tội phạm. Nó tạo điều kiện cho người dân chủ động bảo vệ mình và người khác khi bị xâm hại, đồng thời răn đe những kẻ có ý định xâm phạm đến quyền và lợi ích của người khác. Quyền tự vệ là một trong những quyền cơ bản của con người.

II. Vượt Quá Giới Hạn Phòng Vệ Hậu Quả Pháp Lý Cách Tránh

Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi phòng vệ rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại. Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Việc xác định hành vi có vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hay không là một vấn đề phức tạp, đòi hỏi phải xem xét kỹ lưỡng các yếu tố liên quan. Hậu quả pháp lý của hành vi này rất nghiêm trọng.

2.1. Các yếu tố cấu thành tội phạm vượt quá giới hạn phòng vệ

Để cấu thành tội phạm vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, cần phải có các yếu tố sau: Có hành vi xâm hại trái pháp luật đang diễn ra hoặc có nguy cơ xảy ra; Hành vi phòng vệ là cần thiết để ngăn chặn hành vi xâm hại; Hành vi phòng vệ rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại. Yếu tố cấu thành tội phạm là rất quan trọng.

2.2. Phân biệt vượt quá giới hạn phòng vệ và phòng vệ chính đáng

Sự khác biệt cơ bản giữa vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng và phòng vệ chính đáng nằm ở tính tương xứng giữa hành vi phòng vệ và hành vi xâm hại. Nếu hành vi phòng vệ tương xứng với hành vi xâm hại thì đó là phòng vệ chính đáng. Nếu hành vi phòng vệ rõ ràng quá mức cần thiết thì đó là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Phân biệt phòng vệ chính đáng và vượt quá giới hạn là rất quan trọng.

2.3. Mức độ nguy hiểm của hành vi tấn công và tương xứng phòng vệ

Mức độ nguy hiểm của hành vi tấn công là yếu tố quan trọng để xác định tính tương xứng của hành vi phòng vệ. Hành vi phòng vệ phải tương xứng với mức độ nguy hiểm của hành vi tấn công. Nếu hành vi tấn công chỉ gây ra thiệt hại nhỏ về tài sản thì hành vi phòng vệ không được gây ra thiệt hại lớn về tính mạng hoặc sức khỏe của người tấn công. Tương xứng giữa hành vi phòng vệ và hành vi tấn công là yếu tố then chốt.

III. Luật Hình Sự Việt Nam Quy Định Về Phòng Vệ Chính Đáng

Luật Hình sự Việt Nam quy định rõ về phòng vệ chính đáng và các trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Các quy định này nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đồng thời đảm bảo sự công bằng và nghiêm minh của pháp luật. Việc hiểu rõ các quy định này là rất quan trọng để tránh những sai sót trong quá trình áp dụng pháp luật. Bộ luật hình sự là căn cứ pháp lý quan trọng nhất.

3.1. Điều kiện để được coi là phòng vệ chính đáng theo luật

Theo quy định của pháp luật, để được coi là phòng vệ chính đáng, cần phải đáp ứng các điều kiện sau: Có hành vi xâm hại trái pháp luật đang diễn ra hoặc có nguy cơ xảy ra; Hành vi xâm hại phải là nguy hiểm cho xã hội; Hành vi phòng vệ là cần thiết để ngăn chặn hành vi xâm hại; Hành vi phòng vệ phải tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại. Điều kiện phòng vệ chính đáng được quy định rất rõ ràng.

3.2. Trách nhiệm hình sự khi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng

Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Tùy thuộc vào tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi, người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Trách nhiệm hình sự là rất nghiêm khắc.

IV. Án Lệ Tình Huống Pháp Lý Phòng Vệ Chính Đáng Thực Tế

Việc áp dụng các quy định về phòng vệ chính đáng trong thực tế thường gặp nhiều khó khăn, do tính chất phức tạp của các tình huống pháp lý. Các án lệ và tình huống pháp lý cụ thể có thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn về cách áp dụng pháp luật trong các trường hợp này. Án lệ là nguồn tham khảo quan trọng.

4.1. Ví dụ về phòng vệ chính đáng được tòa án công nhận

Có nhiều ví dụ về các trường hợp phòng vệ chính đáng được tòa án công nhận. Ví dụ, một người bị tấn công bằng dao và đã dùng gậy để tự vệ, gây thương tích cho người tấn công. Tòa án có thể xem xét đây là hành vi phòng vệ chính đáng nếu hành vi tự vệ là cần thiết và tương xứng với hành vi tấn công. Ví dụ về phòng vệ chính đáng rất đa dạng.

4.2. Ví dụ về vượt quá giới hạn phòng vệ bị truy tố hình sự

Ngược lại, cũng có nhiều ví dụ về các trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ bị truy tố hình sự. Ví dụ, một người bị trộm đột nhập vào nhà và đã dùng súng bắn chết trộm. Tòa án có thể xem xét đây là hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng nếu hành vi bắn chết trộm là không cần thiết và không tương xứng với hành vi trộm cắp. Ví dụ về vượt quá giới hạn phòng vệ cũng rất nhiều.

4.3. Phân tích tình huống pháp lý phức tạp về phòng vệ chính đáng

Các tình huống pháp lý liên quan đến phòng vệ chính đáng thường rất phức tạp, đòi hỏi phải xem xét kỹ lưỡng các yếu tố liên quan, như tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại, tính cần thiết và tương xứng của hành vi phòng vệ, và các yếu tố khác như trạng thái tinh thần của người phòng vệ. Phân tích tình huống pháp lý là rất quan trọng để đưa ra quyết định đúng đắn.

V. Hướng Dẫn Pháp Luật Tự Vệ Hợp Pháp An Toàn Cho Bạn

Để tự vệ hợp pháp và an toàn, bạn cần phải hiểu rõ các quy định của pháp luật về phòng vệ chính đáng. Bạn cũng cần phải biết cách đánh giá tình huống và đưa ra quyết định đúng đắn trong các tình huống nguy hiểm. Hướng dẫn pháp luật sẽ giúp bạn tự vệ một cách an toàn và hợp pháp.

5.1. Quyền tự vệ và giới hạn của quyền tự vệ theo pháp luật

Bạn có quyền tự vệ khi bị xâm hại trái pháp luật, nhưng quyền tự vệ của bạn cũng có giới hạn. Bạn chỉ được tự vệ khi hành vi xâm hại đang diễn ra hoặc có nguy cơ xảy ra, và hành vi tự vệ của bạn phải tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại. Quyền tự vệ là một quyền cơ bản, nhưng cần phải sử dụng một cách hợp lý.

5.2. Cách ứng phó khi bị tấn công để đảm bảo an toàn và hợp pháp

Khi bị tấn công, bạn cần phải giữ bình tĩnh và đánh giá tình huống. Nếu có thể, hãy cố gắng tránh xa khỏi nguy hiểm và gọi điện cho cảnh sát. Nếu không thể tránh khỏi việc tự vệ, hãy sử dụng vũ lực một cách hợp lý và tương xứng với hành vi tấn công. Ứng phó khi bị tấn công cần phải được thực hiện một cách cẩn trọng.

VI. Hoàn Thiện Pháp Luật Kiến Nghị Về Phòng Vệ Chính Đáng

Để hoàn thiện pháp luật về phòng vệ chính đáng, cần phải có những nghiên cứu sâu sắc về lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật. Cần phải có những kiến nghị cụ thể để sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật, nhằm đảm bảo sự công bằng và nghiêm minh của pháp luật, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Hoàn thiện pháp luật là một quá trình liên tục.

6.1. Đề xuất sửa đổi bổ sung quy định về phòng vệ chính đáng

Cần phải sửa đổi, bổ sung các quy định về phòng vệ chính đáng để làm rõ hơn các điều kiện để được coi là phòng vệ chính đáng, cũng như các trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Cần phải có những quy định cụ thể hơn về tính tương xứng giữa hành vi phòng vệ và hành vi xâm hại. Sửa đổi quy định pháp luật là cần thiết để phù hợp với thực tiễn.

6.2. Giải pháp nâng cao nhận thức pháp luật về phòng vệ chính đáng

Cần phải tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về phòng vệ chính đáng cho người dân, để nâng cao nhận thức pháp luật và giúp người dân hiểu rõ hơn về quyền và nghĩa vụ của mình trong các tình huống nguy hiểm. Nâng cao nhận thức pháp luật là rất quan trọng để đảm bảo sự tuân thủ pháp luật.

08/06/2025
Luận văn thạc sĩ phòng vệ chính đáng và các tội phạm do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng theo luật hình sự việt nam 04

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG TRONG LUẬT HÌNH SỰ 1. KHÁI NIỆM, Ý NGHĨA VÀ CÁC ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG 1. Khái niệm phòng vệ chính đáng Thực tiễn xét xử cho thấy, để tạo cơ sở pháp lý cho cán bộ có trách nhiệm trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và mỗi ngƣời dân trƣớc hết tự bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình và của ngƣời khác, cũng nhƣ của xã hội, pháp luật hình sự bất kỳ quốc gia nào cũng quy định chế định phòng vệ chính đáng và pháp luật hình sự Việt Nam cũng đã quy định rõ ràng vấn đề này. Một mặt, để khuyến khích, động viên công dân hãy làm việc có ích, có lợi cho xã hội, nhƣng mặt khác, đó cũng chính là góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm, thực hiện quyền dân chủ của công dân.

Trƣớc khi ban hành Bộ luật hình sự Việt Nam đầu tiên năm 1985, chúng ta đã đề cập đến vấn đề này để góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả bằng Luật số 103/SL ngày 20/5/1957 và Bản tổng kết số 452/SL ngày 10/6/1970 của Tòa án nhân dân tối cao cũng đề cập đến quyền tự do thân thể, trong đó cho phép ngƣời thi hành công vụ dùng vũ khí và việc giết ngƣời do vƣợt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Sau đó, Tòa án nhân dân tối cao đã tổng kết thực tiễn xét xử và ban hành Chỉ thị số 07/CT ngày 22/12/1983 về việc xét xử các hành xâm phạm tính mạng hoặc sức khỏe của ngƣời khác do vƣợt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc trong khi thi hành công vụ và tại Phần II Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 05/01/1986 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao “Về hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự năm 1985” đã đề cập đến ở một chừng mực nhất định những vấn đề chủ yếu có 9 z liên quan đến chế định phòng vệ chính đáng. Phân tích những luận điểm khoa học trong các văn bản này có thể nhận thấy quan điểm về phòng vệ chính đáng của thực tiễn xét xử nƣớc ta thời kỳ này bao gồm một số nội dung cơ bản đƣợc GS. Lê Văn Cảm tổng kết nhƣ sau [7]: Một là, bốn điều kiện để hành vi không bị coi là tội phạm trong trƣờng hợp phòng vệ chính đáng: a) Mức độ nguy hiểm cho xã hội đáng kể của hành vi xâm hại; b) Hành vi xâm hại cần phải đang tồn tại và chƣa kết thúc; c) Hành vi phòng vệ cần phải đƣợc thực hiện bằng việc gây thiệt hại cho chính ngƣời có hành vi xâm hại, chứ không phải là cho ngƣời thứ ba và; d) Cƣờng độ của hành vi phòng vệ cần phải tƣơng xứng với cƣờng độ của hành vi xâm hại.

Hai là, phòng vệ tƣởng tƣợng là việc gây thiệt hại cho ngƣời khác mà ngƣời phòng vệ tƣởng lầm rằng ngƣời khác ấy thực hiện sự xâm hại nguy hiểm cho xã hội đối với mình. Ba là, vƣợt quá giới hạn của phòng vệ chính đáng là hành vi nguy hiểm cho xã hội đƣợc thực hiện trong trƣờng hợp thiếu một trong bốn điều kiện đã nêu trên và đặc biệt là, khi hành vi phòng vệ rõ ràng là quá đáng không tƣơng xứng với hành vi xâm hại. Sau đó, đến khi pháp điển hóa lần thứ nhất, khoản 1 Điều 13 Bộ luật hình sự năm 1985 đã ghi nhận khái niệm phòng vệ chính đáng nhƣ sau: Phòng vệ chính đáng là hành vi vì bảo vệ lợi ích của nhà nước, của tập thể, bảo vệ lợi ích chính đáng của mình, của người khác mà chống trả lại một cách tương xứng người có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên. Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm [39].

Nhƣ vậy, định nghĩa trên đây là định nghĩa pháp lý có tính khoa học thể 10 z hiện rõ nét bản chất chính trị, xã hội và pháp lý của phòng vệ chính đáng. Nó là cơ sở khoa học thống nhất cho việc xác định một hành vi đƣợc coi là thực hiện trong phòng vệ chính đáng, hƣớng cho mỗi công dân thực hiện quyền phòng vệ của mình đúng pháp luật, qua đó phát huy tính tích cực chủ động của mình. Thời gian qua thực tiễn áp dụng điều luật phòng vệ chính đáng trong việc giải quyết các vụ án hình sự có liên quan đến việc áp dụng điều luật gặp khó khăn trong việc xác định thế nào là sự “chống trả lại một cách tương xứng người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên”. Trong đó thực tế rất khó xác định sự tƣơng xứng giữa hai hành vi (hành vi xâm hại và hành vi phòng vệ) đƣợc thực hiện bởi hai chủ thể khác nhau và có động cơ, mục đích trái ngƣợc nhau nhƣ vậy.

Do đó, việc quy định trong điều luật từ “tương xứng” dễ dẫn đến cách hiểu cơ học, máy móc - ngƣời phạm tội sử dụng công cụ, phƣơng tiện, phƣơng pháp gì thì ngƣời phòng vệ cũng phải sử dụng công cụ, phƣơng tiện tƣơng tự, hoặc có nghĩa thiệt hại do phòng vệ gây ra cho ngƣời có hành vi xâm hại phải ngang bằng hoặc phải nhỏ hơn thiệt hại mà ngƣời xâm hại gây ra. Tuy nhiên, sau khoảng thời gian thực hiện và áp dụng, Bộ luật hình sự năm 1985 đã thể hiện những yếu tố không còn phù hợp với thực tiễn vì thế mà các nhà khoa học và các nhà làm luật thấy rằng cần thiết phải có một Bộ luật khác thay thế để phù hợp với thực tế. Về sau, để có điều luật mới thay thế Bộ luật hình sự năm 1985 thì khoản 1 Điều 15 Bộ luật hình sự năm 1999 phát triển thêm và mang tính kế thừa tích cực của khoản 1 Điều 13 Bộ luật hình sự năm 1985. Do đó, để khắc phục những bất cập thực tế trên, trong Bộ luật hình sự năm 1999 có quy định khái niệm phòng vệ chính đáng tại khoản 1 Điều 15 với một số sự thay đổi nhất định để mở ra một cách hợp lý hơn cho những cán bộ tƣ pháp hình sự, những ngƣời làm công tác điều tra, truy tố, xét xử trong việc áp dụng điều luật vào từng trƣờng hợp cụ thể, cũng nhƣ tạo ra một tâm lý tích cực hơn, chủ 11 z động hơn khuyến khích mọi công dân tham gia vào việc đấu tranh phòng, chống tội phạm: Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.

Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm [40]. Theo đó, xét về mặt ngôn ngữ thì trong khái niệm phòng vệ chính đáng của Bộ luật hình sự năm 1999 đã thay đổi một số cụm từ so với khái niệm phòng vệ chính đáng trong Bộ luật hình sự năm 1985, nhƣ thay cụm từ “của tập thể” bằng “của tổ chức” hay “bảo vệ lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác” bằng cụm từ “bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác”, và đặc biệt các nhà làm luật nƣớc ta trong lần pháp điển hóa luật hình sự năm 1999 đã thay thế cụ từ “tương xứng” bằng cụm từ “cần thiết”. Bởi vì, nếu sử dụng cụm từ “tương xứng” dễ dẫn đến cách hiểu không đúng, máy móc là: Người phạm tội sử dụng công cụ, phương tiện, phương pháp gì, thì người phòng vệ cũng phải sử dụng công cụ, phương tiện, pháp pháp tương tự, hoặc có nghĩa là thiệt hại do người phòng vệ gây ra cho người có hành vi xâm hại phải ngang bằng hoặc nhỏ hơn thiệt hại mà người xâm hại gây ra hoặc đe dọa gây ra. cũng như chưa xuất phát từ cái nhìn của người trong cuộc.

Nhƣ vậy, một số sửa đổi, bổ sung cơ bản trên có ý nghĩa thực tiễn quan trọng nhằm góp phần phát huy tính chủ động trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, điều này rất có ý nghĩa trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, ngƣời phòng vệ trên cơ sở tự đánh giá về tính chất quan hệ xã hội bị xâm hại, cƣờng độ của sự tấn công cũng nhƣ tổng hợp các yếu tố khác nhƣ thời gian, không 12 z gian, địa điểm… để quyết định biện pháp chống trả cũng nhƣ mức độ chống trả lại ngƣời có hành vi xâm hại các khách thể cần bảo vệ một cách mà họ cho là “cần thiết” nhằm ngăn chặn, đẩy lùi hành vi xâm hại, bảo vệ khách thể đó. Phòng vệ chính đáng xét về mặt hình thức đã có đủ các dấu hiệu của tội phạm nhƣng các nhà làm luật lại không coi phòng vệ chính đáng là tội phạm. Thiệt hại do ngƣời phòng vệ gây ra đối với ngƣời có hành vi xâm hại trong phòng vệ chính đáng chính là nhằm bảo vệ lợi ích của nhà nƣớc, của tập thể (của tổ chức)… phù hợp với lợi ích yêu cầu chung của toàn xã hội. Do vậy phòng vệ chính đáng không những không bị coi là tội phạm mà còn đƣợc nhà nƣớc và xã hội khuyến khích thực hiện.

Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm mà là hành vi tự vệ trƣớc sự tấn công trái pháp luật, nhằm ngăn ngừa, hạn chế hậu quả tác hại do sự tấn công trái pháp luật gây ra hoặc đe dọa thực tế gây ra. Hành vi phòng vệ chính đáng không mang tính chất nguy hiểm cho xã hội mà nó hoàn toàn phù hợp với xã hội thể hiện rõ ý thức trách nhiệm của công dân góp phần vào việc bảo vệ và củng cố trật tự xã hội. Cũng chính vì thế mà pháp luật cho phép ngƣời phòng vệ có thể thực hiện sự chống trả lại tất cả những hành vi xâm phạm tới những quan hệ xã hội đƣợc Bộ luật hình sự bảo vệ, không chỉ riêng gì quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời phòng vệ nói riêng. Phòng vệ chính đáng là quyền chứ không phải nghĩa vụ pháp lý của công dân.

Vì thế, pháp luật cho phép mọi công dân chủ động trong việc thực hiện quyền phòng vệ chính đáng của mình. Về vấn đề này, GS. Nguyễn Ngọc Hòa đã viết: Người phòng vệ mặc dù gây thiệt hại cho kẻ tấn công nhưng đã sử dụng một quyền, hơn nữa đã thi hành một bổn phận đối với xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Phòng Vệ Chính Đáng và Tội Phạm Vượt Quá Giới Hạn Theo Luật Hình Sự Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các khái niệm pháp lý quan trọng liên quan đến phòng vệ chính đáng và các hành vi tội phạm vượt quá giới hạn trong bối cảnh luật hình sự Việt Nam. Tài liệu này không chỉ giải thích rõ ràng các điều khoản pháp luật mà còn phân tích các trường hợp cụ thể, giúp người đọc hiểu rõ hơn về quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong các tình huống pháp lý khác nhau.

Đặc biệt, tài liệu mang lại lợi ích cho những ai đang tìm kiếm kiến thức về luật hình sự, từ sinh viên đến các chuyên gia pháp lý, giúp họ nắm bắt được các quy định và ứng dụng thực tiễn của luật. Để mở rộng thêm kiến thức của bạn, bạn có thể tham khảo tài liệu Chủ thể đặc biệt trong luật hình sự Việt Nam, nơi cung cấp thông tin chi tiết về các chủ thể có liên quan trong hệ thống pháp luật. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực luật hình sự và các khía cạnh liên quan.