Chương 1 TÌNH HÌNH TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH GIAI ĐOẠN 2016 -2020 1. Vấn đề chung về tình hình tội phạm Theo GS. Nguyễn Ngọc Hòa: “Tình hình tội phạm là trạng thái, xu thế vận động của các tội phạm (hoặc nhóm tội phạm hoặc một loại tội phạm) đã xảy ra trong đơn vị không gian và đơn vị thời gian nhất định”1. Trong Giáo trình tội phạm học của Đại học Huế có định nghĩa tình hình tội phạm là hiện tượng xã hội, pháp lý - hình sự được thay đổi về mặt lịch sử, mang tính giai cấp bao gồm tổng thể thống nhất (hệ thống) các tội phạm thực hiện trong một xã hội (quốc gia) nhất định và trong khoảng thời gian nhất định2.
Còn Giáo trình Tội phạm học của trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh đưa ra khái niệm tình hình tội phạm thông qua việc phân tích các thuộc tính, đặc điểm của tình hình tội phạm, cụ thể: “tình hình tội phạm là hiện tượng xã hội, trái pháp luật hình sự, mang tính giai cấp, thay đổi theo quá trình lịch sử, tiêu cực và nguy hiểm cao trong xã hội, được hình thành từ một thể thống nhất các tội phạm cụ thể, tồn tại trong một không gian, thời gian xác định”3. Theo giáo trình của trường Đại học Luật Hà Nội thì tình hình tội phạm là hiện tượng xã hội tiêu cực, trái pháp luật hình sự, mang tính giai cấp và thay đổi theo quá trình lịch sử được thể hiện ở tổng hợp các tội phạm cụ thể đã xảy ra trong xã hội và trong khoảng thời gian nhất định. Theo quan điểm của cá nhân, học viên đồng tình với định nghĩa của GS. Bởi lẽ định nghĩa này đã nếu được bản chất của tình hình tội phạm, phân biệt tình hình tội phạm với tội phạm.
Qua định nghĩa này, học viên cũng hiểu được hai nhiệm vụ cần thực hiện khi tiến hành nghiên cứu tình hình tội phạm: (1) nghiên cứu thực trạng của tội phạm và (2) nghiên cứu xu hướng vận động của tội phạm. 1 Nguyễn Ngọc Hòa, Tội phạm và cấu thành tội phạm, Nxb. Tư pháp, 2015, Hà Nội, tr.252 2 Trường Đại học Huế, Trung tâm đào tạo từ xa, Giáo trình tội phạm học, 1999, NXB Giáo dục, tr 58. 3 Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, Giáo trình tội phạm học, NXB Hồng Đức, 2016, Hà Nội, tr 23 8 Do đó, khi nghiên cứu tình hình tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại tỉnh Quảng Ninh, tác giả sẽ nghiên cứu thực trạng tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản và diễn biến tội phạm (xu thế vận động của tội phạm) lừa đảo chiếm đoạt tài sản với đơn vị không gian là: tỉnh Quảng Ninh và đơn vị thời gian được lựa chọn là: giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2020.
Thực trạng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2016-2020 Thực trạng của tội phạm là: “tình trạng thực tế hiện có của tội phạm trong đơn vị không gian và đơn vị thời gian nhất định xét về mức độ và tính chất. Nghiên cứu thực trạng của tội phạm là nghiên cứu hai đặc điểm của thực trạng. Đặc điểm về mức độ được phản ánh qua số lượng tội cũng như số lượng người phạm tội và đặc điểm về tính chất được phản ánh qua các cơ cấu của tội phạm cũng như của người phạm tội”4. Thực trạng của tình hình tội phạm là tổng hợp các số liệu về số vụ phạm tội đã xảy ra, số lượng người thực hiện các tội phạm đó và số lượng người được coi là nạn nhân trên một địa bàn nhất định, trong một khoảng thời gian nhất định.
Thực trạng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại tỉnh Quảng Ninh là tình trạng thực tế của các tội phạm này trong phạm vi của tỉnh Quảng Ninh từ năm 2016 đến năm 2020. Tình trạng thực tế các tội phạm LĐCĐTS này một phần có được do các cơ quan chức năng phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử và đưa vào thống kê hình sự (phần tội phạm rõ), còn một phần do nhiều nguyên nhân khác nhau, cả về khách quan, cả về chủ quan tuy đã xảy ra trên thực tế nhưng chưa được cơ quan chức năng có thẩm quyền phát hiện và xử lý trên thực tế hoặc đã xử lý nhưng chưa được đưa vào các thống kê hình sự (phần tội phạm ấn). Cũng như thực trạng của các hiện tượng khác, thực trạng của các tội LĐCĐTS cần được đánh giá về mặt “định lượng và về mặt “định tính”. Đó là đánh giá về mức độ của tội phạm (định lượng) và đánh giá về tính chất và cơ cấu của tội phạm (định tính).
Thực trạng về mức độ của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn 4 Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình tội phạm học, Nxb. Công an nhân dân, 2015, tr.112 9 tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2016-2020 1. Tội phạm rõ Như đã đề cập ở trên, khi làm rõ thực trạng của tình hình các tội phạm LĐCĐTS nói riêng cũng như tội phạm nói chung chủ yếu được dựa trên phần tội phạm rõ, tức là phần tội phạm đã được cơ quan chức năng có thẩm quyền phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử và được đưa vào thống kê hình sự. Tác giả chủ yếu tập trung vào phần tội phạm rõ này.
Về thực trạng của tình hình các tội LĐCĐTS trên phạm vi tỉnh Quảng Ninh từ năm 2016 đến năm 2020 được thể hiện qua các số liệu thống kê hình sự cụ thể như sau: Bảng 1.1: Số vụ và số người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2016-2020 Năm 2016 2017 2018 2019 2020 Tổng TB Số vụ 35 49 41 55 42 222 44,4 Số người phạm 36 55 44 69 53 257 51,4 tội Nguồn: Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh và Công an tỉnh Quảng Ninh Số vụ 222 Số người phạm tội 257 200 210 220 230 240 250 260 Biểu đồ 1.1: Số vụ và số người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2016-2020 Bảng 1 và Biểu đồ 1 ở trên cho thấy từ năm 2016 cho đến năm 2020, Tòa án các 10 cấp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đã xét xử 222 vụ án với 257 bị cáo về tội LĐCĐTS. Trung bình mỗi năm có khoảng 44,4 vụ với 51,4 bị cáo bị xét xử sơ thẩm hình sự về tội này. Trong đó cao nhất là vào năm 2019 Tòa án nhân dân các cấp thuộc tỉnh Quảng Ninh đã xét xử 55 vụ với 69 bị cáo phạm tội LĐCĐTS, thấp nhất là vào năm 2016 với 35 vụ với 36 bị cáo. Để thấy rõ mức độ của thực trạng này, cần so sánh số liệu số vụ và số người phạm tội LĐCĐTS trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2016 – 2020 với một số tiêu chí sau: Thứ nhất, so sánh số vụ, số người phạm tội LĐCĐTS tại tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2016 – 2020 với số vụ, số người phạm các tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2016 – 2020 Bảng 1.2: So sánh số vụ, số người phạm tội tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2016 – 2020 với số vụ, số người phạm các tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2016 – 2020 Các tội xâm phạm Tội lừa đảo chiếm Tỷ (2) so với (1) sở hữu đoạt tài sản (đơn vị %) (1) (2) Chỉ tiêu Số Số Tỷ lệ số người người Số vụ Số vụ Tỷ lệ số vụ người phạm phạm phạm tội tội tội Tổng 1619 2200 222 257 13,71% 11,68% Nguồn: Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh và Công an tỉnh Quảng Ninh 11 Các tội xâm phạm sở hữu Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 2500 2200 2000 1619 1500 1000 500 222 257 0 Số vụ Số người phạm tội Biểu đồ 1.2: So sánh số vụ, số người phạm tội tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2016 – 2020 với số vụ, số người phạm các tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2016 – 2020 Nhìn vào thống kê có thể thấy tỷ lệ số vụ phạm tội LĐCĐTS so với số vụ thuộc nhóm các tội xâm phạm sở hữu là 13,71% và tỷ lệ số người phạm tội LĐCĐTS với nhóm các tội xâm phạm sở hữu là 11,68%.
Từ đó có thể nhận định số lượng vụ án và số người phạm tội LĐCĐTS là chiếm một tỷ lệ tương đối trong số các vụ án và số người phạm tội thuộc nhóm tội xâm phạm sở hữu. Thứ hai, so sánh giữa số vụ, số người phạm tội LĐCĐTS tại tỉnh Quảng Ninh với số vụ, số người phạm tội nói chung trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2016 – 2020 12 Bảng 1.3: So sánh số vụ, số người phạm tội tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại tỉnh Quảng Ninh với số vụ, số người phạm tội nói chung trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2016 – 2020 Tội phạm nói Tội lừa đảo chiếm Tỷ (2) so với (1) chung đoạt tài sản (đơn vị %) (1) (2) Chỉ tiêu Số Số Tỷ lệ số người người Số vụ Số vụ Tỷ lệ số vụ người phạm phạm phạm tội tội tội Tổng 6733 11.662 222 257 3,30% 2,20% Nguồn: Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh và Công an tỉnh Quảng Ninh 12000 11,662 10000 8000 6,733 6000 Tội phạm nói chung Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 4000 2000 222 0 257 Số vụ Số người phạm tội Biểu đồ 1.3: So sánh số vụ, số người phạm tội tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại tỉnh Quảng Ninh với số vụ, số người phạm tội nói chung trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2016 – 2020 Từ các số liệu và minh họa của biểu đồ có thể thấy tỷ lệ các vụ án và số người phạm tội LĐCĐTS so với số lượng vụ án và người phạm của tất cả các tội trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh (giai đoạn 2016-2020) là không lớn. Cụ thể, số vụ án LĐCĐTS và người phạm tội LĐCĐTS tại tỉnh Quảng Ninh là 222 vụ án và 257 người phạm tội. 13 Còn số lượng vụ án hình sự và số lượng người phạm tội tại toàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2016 – 2020 là 6733 vụ án và 11.662 người phạm tội.
Như vậy, tỷ lệ % số vụ và số người phạm tội LĐCĐTS trên số vụ và số người phạm tội nói chung tại tỉnh Quảng Ninh là 3,30% và 2,20%.