CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TÁI PHẠM 1. Khái niệm và đặc điểm pháp lý của tái phạm Trong các nghiên cứu ở nước ngoài, từ "tái phạm" trong tiếng Anh (recidivism) và tiếng Pháp (récidive) đều có nguồn gốc từ một từ trong tiếng Latin là "recidivus" nên có nghĩa khá tương tự như tái phạm trong tiếng Hán hàm chứa từ "tái" (再) có nghĩa là "lại" và từ "phạm" (犯) có nghĩa là "xâm phạm". Một thuật ngữ khác gần với tái phạm hình sự (hay có thể tạm coi là tái phạm tội) hơn thường được sử dụng trong tiếng Anh là "reoffending". Vì thế, quan niệm về tái phạm trong các nghiên cứu nước ngoài cũng tương đối rộng, đôi khi chỉ hàm nghĩa về tái phạm hình sự nhưng cũng thường ám chỉ các các dạng tái phạm khác [7].V Đa - Scốp đã trình bày: "Tái phạm là một khái niệm pháp lý và rất có ý nghĩa trong tội phạm học… Tái phạm là phạm tội từ hai lần trở lên - kẻ tái phạm là kẻ phạm tội mới trong khi án tích về tội cũ chưa được xóa bỏ”.
Nhà tội phạm học Mỹ Michael D. Maltz cho rằng "Người tái phạm là người sau khi mãn hạn tù (vì đã thực hiện một tội phạm) không hoàn lương mà thay vào đó họ lặp lại lối ứng xử cũ và tiếp tục phạm tội". Như vậy, khái niệm này tương đối gần gũi với khái niệm tái phạm trong lĩnh vực hình sự ở Việt Nam. Trong những nghiên cứu ở Việt Nam, thuật ngữ "tái phạm" xuất hiện thường xuyên.
Theo từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học thì tái phạm là: "Phạm lại tội cũ, sai lầm cũ". Từ điển Việt Nam của tác giả Thanh Nghị trình bày đơn giản: "Tái phạm là phạm tội lần nữa" , còn theo từ điển Hán Việt của tác giả Đào Duy Anh thì: "Tái phạm là phạm tội lần thứ hai". Tái phạm còn là một hiện tượng được nhiều ngành luật trong hệ thống pháp luật quan tâm điều chỉnh, trong đó với mỗi ngành luật khác nhau, cách thức quy định về vấn đề tái phạm lại có những điểm khác nhau. Cụ thể: Dưới góc độ pháp luật hình sự, tại Điều 49, BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung 7 năm 2009) vấn đề tái phạm đã được xác định rõ ràng: "Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố ý hoặc phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do vô ý".
Điều 53 BLHS năm 2015 quy định rõ "Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý". Với căn cứ trên, TS. Nguyễn Văn Hoàng đưa ra quan điểm: "Tái phạm tội là hành vi phạm tội của những người mà trước đó đã có hành vi phạm tội đã bị kết án chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố ý hoặc phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng do vô ý" [8]. Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Khoản 5 Điều 2 cũng quy định rõ: "Tái phạm là việc cá nhân, tổ chức đã bị xử lý vi phạm hành chính nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.
mà lại thực hiện hành vi vi phạm hành chính đã bị xử lý". Luật lao động năm 2012 tại Khoản 2, Điều 122 lại quy định: "Tái phạm là trường hợp người lao động lặp lại hành vi vi phạm đã bị xử lý kỷ luật mà chưa được xóa kỷ luật". Về quan điểm cá nhân, tác giả cho rằng tái phạm là trường hợp đã bị kết án về một tội mà lại phạm tội mới. Tái phạm theo các quy định của pháp luật và quan điểm của các tác giả nêu trên đã thể hiện sự lặp lại của hành vi với những dấu hiệu khác nhau.
Như vậy tái phạm tội có những đặc trưng sau: - Tái phạm là hành vi phạm tội, nên có đầy đủ các dấu hiệu của tội phạm như tính trái pháp luật hình sự, tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi, tính có lỗi và tính chịu hình phạt. Trong tội phạm học, tái phạm là một hiện tượng đặc biệt của tội phạm nên có thể nghiên cứu một cách độc lập. Hiện tượng tái phạm trong tội phạm học là một hiện tượng mang tính "hiện thực" chứ không đơn thuần mang tính "pháp lý" như được nghiên cứu trong khoa học luật hình sự. Tuy nhiên, dù mang tính hiện thực hay pháp lý thì tái phạm vẫn có đầy đủ các nội dung của dấu hiệu tội phạm.
Vì vậy, nội dung này hoàn toàn giống với nội dung của tái phạm trong pháp luật hình sự. - Người thực hiện hành vi phạm tội bị coi là tái phạm là người mà trước đó bị 8 Tòa án kết án nhưng lại phạm tội mới đủ yếu tố xử lý hình sự. Ở đặc trưng này cần phải hiểu rõ: Người tái phạm chính là những người đã phạm tội trước đó lại phạm tội tiếp, không phân biệt: Đã xóa án tích hay chưa xóa án tích, là lỗi cố ý hay vô ý và tội phạm ít nghiêm trọng hay nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng. Điều này cho thấy sự khác biệt giữa khái niệm tái phạm trong tội phạm học với khái niệm tái phạm trong pháp luật hình sự chính là: Trong tội phạm học không nhất thiết phải quan tâm tới yếu tố án tích, hành vi lỗi và tính chất tội phạm mà chỉ cần thực hiện hai lần hành vi thỏa mãn cấu thành tội phạm là được coi là tái phạm tội.
Với đặc trưng trên, có thể thấy giữa phạm tội nhiều lần với tái phạm giống ở chỗ chủ thể đã nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội, có nghĩa rằng chủ thể đó phạm tội từ hai lần trở lên. Song phạm tội nhiều lần khác tái phạm ở hai phương diện: Một là, hành vi của chủ thể có đầy đủ các dấu hiệu của hai tội phạm trở lên mà những tội ấy quy định tại cùng một điều hoặc một khoản của điều luật. Còn tái phạm thì hành vi phạm tội sau này có thể là phạm vào một tội mới khác với tội đã phạm trước đó; hai là, phạm tội nhiều lần khác tái phạm là người thực hiện hành vi phạm tội chưa bị kết án. Còn tái phạm tội tuy cũng nhiều lần phạm tội, nhưng đã bị kết án về tội trước đó và tội sau tái phạm có thể là một tội khác.
Đối với phạm nhiều tội thì phạm nhiều tội khác tái phạm ở chỗ người phạm tội chưa bị xét xử, chưa bị kết án về tội nào trong số các tội ấy. Đối với khái niệm tình trạng tái phạm tội, khái niệm tái phạm là chỉ hành vi phạm tội của những người mà trước đó đã bị kết án nhưng lại phạm tội mới đủ các yếu tố xử lý hình sự (bao gồm cả trường hợp đã xóa án tích và chưa xóa án tích). Còn tình trạng tái phạm tội là phản ánh tổng thể toàn bộ tình hình tái phạm tội, cơ cấu của tình trạng tái phạm tội trong một giai đoạn, thời điểm nhất định, diễn biến của toàn bộ các trường hợp tái phạm tội đã xảy ra trong một giai đoạn nhất định. Vì vậy, khi nghiên cứu tái phạm dưới góc độ một hiện tượng, tội phạm học sẽ xem xét nó như một khía cạnh mang tính chuyên sâu về tội phạm và phải dựa trên các lý thuyết cơ bản về tội phạm cũng như các lý thuyết riêng biệt mang tính chất chuyên sâu và phản ánh được các đặc điểm riêng của hiện tượng này dưới cả góc độ 9 pháp lý lẫn thực tiễn.
Khái niệm và ý nghĩa của phòng ngừa tái phạm 1. Khái niệm phòng ngừa tái phạm Phòng ngừa tái phạm tội thực chất cũng là một bộ phận, một nội dung của hoạt động phòng ngừa tội phạm nói chung. Do đó, các nội dung của hoạt động phòng ngừa tái phạm tội được hình thành dựa trên nền tảng, các yêu cầu và đặc điểm của hoạt động phòng ngừa tội phạm.TS Nguyễn Xuân Yêm cho rằng: "Hoạt động phòng ngừa tái phạm đối với người đã chấp hành xong bản án hình sự là hình thức phòng ngừa cá biệt của các biện pháp phòng ngừa tội phạm" [21]. Nguyễn Văn Hoàng cũng cho rằng: "Phòng ngừa tái phạm thực chất là một bộ phận, một nội dung của hoạt động phòng ngừa tội phạm nói chung" [8].
Vì dưới góc độ tội phạm học thì phòng ngừa tội phạm là tổng hợp các biện pháp có quan hệ tác động lẫn nhau, được tiến hành bởi các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội nhằm mục đích ngăn chặn tội phạm và hạn chế, loại trừ những nguyên nhân phát sinh tội phạm. Trong các công trình nghiên cứu ở nước ngoài, các tác giả thường không tìm đến một định nghĩa phức tạp về phòng ngừa tái phạm mà chỉ dừng lại ở việc hiểu nó theo ngữ nghĩa thông thường. Chẳng hạn, tác giả Peter Joyce nói đến phòng ngừa tái phạm như một chức năng hướng tới việc tối thiểu hóa nguy cơ tái phạm trong tương lai. Hay một tác giả khác quan niệm phòng ngừa tái phạm là việc giúp người phạm tội ngừng những hành vi bạo lực và tội phạm.
Trong lý luận tội phạm học gần đây bắt đầu đã đề cập đến những nhận thức cơ bản về phòng ngừa tái phạm. Hoạt động đó đòi hỏi phải thông qua hàng loạt các biện pháp trên cơ sở phát huy vai trò, sự quan tâm của cộng đồng kết hợp với sự kiểm tra, giám sát của xã hội. Mục tiêu của phòng ngừa tái phạm là cảm hóa, giáo dục không để cho những người đã bị kết án có hành vi tái phạm, khắc phục loại trừ nguyên nhân, điều kiện của tái phạm tội. Trên cơ sở các phân tích trên, phòng ngừa tái phạm được hiểu là: Phòng ngừa tái phạm là việc áp dụng tổng hợp nhiều biện pháp khác nhau như biện pháp nhà 10 nước, biện pháp xã hội, biện pháp nghiệp vụ hướng tới việc thủ tiêu nguyên nhân và điều kiện tái phạm tội, giúp đỡ những người đã có hành vi phạm tội và đã bị kết án trở thành người lương thiện nhằm từng bước ngăn chặn, hạn chế, đẩy lùi tái phạm trong xã hội.
Với khái niệm trên, khi hình dung về phòng ngừa tái phạm, cần cân nhắc tới một số khía cạnh quan trọng như sau: - Về chủ thể: Có thể thấy chủ thể thực hiện phòng ngừa tái phạm tương đồng với chủ thể phòng ngừa tội phạm.