phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu làm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Nhận thức cơ bản về Phòng, chống rửa tiền Chƣơng 2: Hải quan Việt Nam và một số Quốc gia trên thế giới trong công tác phòng chống rửa tiền Chƣơng 3: Thuận lợi, khó khăn và một số kiến nghị, giải pháp trong phòng, chống rửa tiền. CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÕNG, CHỐNG RỬA TIỀN 1. Khái niệm rửa tiền, quy trình rửa tiền và các hình thức rửa tiền Ở mỗi một giai đoạn phát triển của nền kinh tế thế giới, khái niệm “rửa tiền” lại đƣợc hoàn thiện đầy đủ hơn. Rửa tiền là một quy trình che giấu hoặc che đậy nguồn gốc của tài sản bất hợp pháp.
Quy trình này xuất hiện song song với sự tồn tại của tài sản bất hợp pháp. Các tài liệu có từ năm 2000 trƣớc Công nguyên đã cho thấy các thƣơng nhân ở Trung Quốc thƣờng che giấu tài sản của họ và đầu tƣ vào các doanh nghiệp ở các tỉnh xa hoặc bên ngoài Trung Quốc để tránh bị đế chế cai trị chiếm mất[35]. Thuật ngữ rửa tiền gắn với tên tuổi Al Capone một thành viên băng đảng xã hội đen ngƣời sở hữu một doanh nghiệp giặt ủi, một phần là để che giấu nguồn gốc thu nhập bất hợp pháp của mình[34]. Những kẻ phạm tội vì lợi ích tài chính luôn phải xử lý vấn đề làm sao để các khoản tiền có đƣợc do phạm tội hình sự của chúng có vẻ nhƣ có nguồn gốc hợp pháp để chúng có thể tận hƣởng mà không thu hút sự chú ý không mong muốn, cũng nhƣ phải chịu những hậu quả tiêu cực từ hành vi phạm tội.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về rửa tiền trong luật của các khu vực pháp lý, trong công ƣớc quốc tế và trong các tài liệu phổ thông hoặc chuyên ngành. Ở Việt Nam, rửa tiền đƣợc quy định tại Luật Phòng, chống rửa tiền (có hiệu lực bắt đầu từ ngày 01/01/2013); Nghị định 116/2013/NĐ-CP ngày 04/10/2013 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng, chống rửa tiền; Thông tƣ số 35/2013/TT-NHNN ngày 31/12/2013 của Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam hƣớng dẫn thực hiện một số quy định về phòng, chống rửa tiền; Bộ Luật Hình sự (1999) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự (2009). Nói chung trong phần lớn các luật thì rửa tiền thƣờng đƣợc mô tả là quá trình mà theo đó số tiền 5 z thu đƣợc do phạm tội hình sự đƣợc tách khỏi tội phạm tạo ra chúng và làm cho chúng có vẻ nhƣ có nguồn gốc hợp pháp. Nếu đƣợc thực hiện trót lọt và hiệu quả thì sẽ rất khó hoặc không thể lần theo số tiền tới tội phạm nguồn.
Số tiền đƣợc rửa trót lọt có thể đƣợc sử dụng mà không còn nguy cơ bị tịch biên hoặc tịch thu. Số tiền thu đƣợc do phạm tội hình sự không chỉ gồm thành quả của việc phạm tội mà còn gồm khoản lãi trên các thành quả đó (ví dụ nhƣ lãi suất ngân hàng, cổ tức, tăng giá tài sản, tiền thuê, v. Tiền trả cho một bên thứ ba hỗ trợ quá trình này cũng đƣợc coi là tiền có đƣợc do phạm tội hình sự và sự hỗ trợ của bên thứ ba đó cũng đƣợc coi là phạm tội. Một doanh nghiệp là tội phạm có tổ chức hiện đại (ví dụ chuyên buôn bán chất ma tuý hoặc buôn ngƣời) thƣờng xuyên tạo ra lƣợng lớn tiền cho tổ chức của mình.
Một phần tiền đƣợc dùng để duy trì doanh nghiệp và hoạt động tội phạm trong tƣơng lai. Số tiền còn lại cần phải đƣợc rửa vì lợi ích của kẻ chủ mƣu - đối tƣợng hiếm khi trực tiếp tham gia phạm tội thực tế. Sử dụng tiền chƣa đƣợc rửa có thể khiến cơ quan thuế để ý đến tội phạm và sẽ đặt câu hỏi về nguồn gốc của thu nhập. Vì vậy, hoạt động rửa tiền chuyên nghiệp là cần thiết và cấu thành một phần của tổ chức tội phạm.
Các đối tƣợng rửa tiền chuyên nghiệp của bên thứ ba có thể hỗ trợ trong quá trình rửa tiền với mức độ và hình thức hỗ trợ khác nhau với một mức phí. Cũng giống nhƣ ở các dịch vụ khác, phí càng cao thì dịch vụ càng tốt và đáng tin cậy hơn. Các loại tội phạm khác có thể tạo ra tiền lớn không thƣờng xuyên hoặc chỉ một lần duy nhất (ví dụ nhƣ một số loại tham nhũng của công). Trong trƣờng hợp này thì có nhiều khả năng việc rửa tiền sẽ sử dụng kế hoạch không theo thể thức thông thƣờng.
"Tự rửa tiền" là khi tội phạm tự rửa tiền có đƣợc do phạm tội của mình mà không có sự tham gia hƣởng lợi của bất kỳ một bên thứ ba nào. Tự rửa tiền cũng là bất hợp pháp. Ngƣợc lại, tội phạm ăn cắp vặt thƣờng không tạo ra lƣợng tiền đủ lớn để phải rửa và thƣờng có thể sử dụng tiền bất chính một cách tự do với nguy cơ bị phát hiện không cao. 6 z Sự di chuyển của tiền qua biên giới là một cấu phần hấp dẫn và hiệu quả của bất kỳ một quy trình rửa tiền nào.
Lý do cho điều này rất đơn giản: tiền dễ dàng di chuyển qua biên giới khi đƣợc trao đổi theo thỏa thuận giữa các bên tƣ nhân (ví dụ nhƣ ngân hàng, cá nhân) trong khi đó những thông tin cần thiết để giúp chính phủ hiểu đƣợc bản chất của cùng một số tiền đó lại không dễ dàng thu thập đƣợc. Ở cấp độ pháp lý, các chính phủ thƣờng gặp khó khăn khi trao đổi thông tin do bị giới hạn bởi các khái niệm cơ bản về tính bảo mật riêng tƣ và chủ quyền, còn ở cấp độ thực thi thì lại gặp khó khăn do thiếu cơ chế hiệu quả và thiết thực để trao đổi. Tội phạm rửa tiền liên tục lợi dụng biên giới để khai thác lỗ hổng này. Chừng nào mà dòng thông tin chính phủ còn chƣa bắt kịp đƣợc với dòng tiền bất hợp pháp thì tiền còn có thể đƣợc coi là đã đƣợc rửa.
Việc bảo vệ biên giới là một chức năng cơ bản, thiết yếu và mang tính sống còn đối với bất kỳ một chính phủ nào. Chức năng này cần đƣợc mở rộng để bao gồm tiền và các công cụ tiền tệ. Theo xếp hạng của Viện Basel về Chỉ số quản trị rủi ro cho phòng chống rửa tiền (PCRT), Việt Nam đƣợc coi là có nguy cơ "cao" về rửa tiền (xếp hạng 25 trong số 144 quốc gia năm 2012). Chỉ số này xem xét một loạt yếu tố bao gồm cả kết quả đánh giá quốc tế về PCRT, bảng xếp hạng của các chỉ số khác (ví dụ nhƣ chỉ số về Tham nhũng công của Tổ chức Minh bạch quốc tế và các đánh giá về quy định pháp luật, rủi ro chính trị, tự do báo chí và sức mạnh của các tổ chức.
Việc sử dụng và chấp nhận tiền mặt rộng rãi tại Việt Nam làm gia tăng thêm nguy cơ bởi tiền mặt giúp che giấu danh tính và khó hoặc không thể lần theo nguồn gốc và điểm đến của tiền mặt. Quy trình rửa tiền Trƣớc khi có thể rửa tiền phải có tội phạm tạo ra tiền. Tội phạm này đƣợc gọi là "tội phạm nguồn" bởi vì nó phải diễn ra trƣớc khi tiền đƣợc tạo ra. Tuy nhiên lại không cần phải chứng minh tội phạm nguồn (dù thông thƣờng 7 z thì vẫn chứng minh đƣợc tội phạm nguồn).
Thay vào đó, chỉ cần chứng minh rằng số tiền thu đƣợc là kết quả của phạm tội. Đôi khi việc này có thể đƣợc chứng minh bằng cách cho thấy rằng không có bất cứ một nguồn thu hợp pháp nào để hình thành nên số tiền đó. Ở Việt Nam, tất cả các tội phạm hình sự có thể đƣợc coi là tội phạm nguồn cho tội rửa tiền. Quy trình rửa tiền điển hình Quá trình rửa tiền bao gồm ba giai đoạn riêng biệt.
Các giai đoạn có thể hiện hữu theo dạng này hay dạng khác với mức độ khác nhau và thậm chí có thể chồng chéo. Hiểu rõ về ba giai đoạn này sẽ giúp xác định và phân tích kiểu hình và phát triển các kỹ thuật để phát hiện và phòng chống rửa tiền. Sau đây là tóm tắt của từng giai đoạn rửa tiền: Một là, giai đoạn cài đặt. Khi tiền có đƣợc do phạm tội đã đƣợc tạo ra, giai đoạn đầu tiên của quá trình rửa tiền sẽ nhằm tách tiền có đƣợc từ tội phạm nguồn bằng cách đƣa nó vào hệ thống tài chính hoặc chuyển đổi nó thành một tài sản tài chính khác.
Việc này có thể tiến hành bằng cách gửi tiền vào ngân hàng, mua 8 z trái phiếu hoặc chứng khoán bằng tiền mặt, mua bảo hiểm, mua bất động sản, mua đá quý và kim loại quý, mua các mặt hàng xa xỉ hoặc mua các phƣơng tiện tƣơng tự. Những tổ chức có giao dịch liên quan đến tiền mặt cần phải kiểm soát để phát hiện và báo cáo về việc cài đặt tiền mặt nhƣ trên. Vì vậy, cài đặt là giai đoạn nguy hiểm nhất của quá trình rửa tiền khi nó diễn ra ở các nƣớc có pháp luật về phòng chống rửa tiền tuân theo chuẩn mực quốc tế và đƣợc quản lý hiệu quả. Tội phạm thƣờng sẽ tìm cách di chuyển tiền qua biên giới để tới các vùng lãnh thổ có luật định về PCRT đƣợc thực thi một cách yếu kém.
Sau khi đã qua giai đoạn cài đặt, tiền vẫn còn "bẩn" và dễ dàng có thể lần theo dấu vết tới đối tƣợng rửa tiền, nhƣng ít nhất tiền không còn ở dạng ban đầu và hình thức mới của tiền sẽ phù hợp hơn cho các giai đoạn rửa tiền tiếp theo. Hai là, giai đoạn xếp lớp. Khi tiền thu đƣợc từ phạm tội hình sự đã đƣợc đƣa vào hệ thống tài chính, mục tiêu tiếp theo sẽ là tiếp tục tạo thêm khoảng cách giữa tiền thu đƣợc do phạm tội với tội phạm nguồn. Quá trình tạo khoảng cách này bao gồm việc tạo ra các lớp phủ phức tạp nhằm gây khó khăn cho việc lần theo dấu vết đến nguồn tiền.
Tiền càng đƣợc rửa kỹ thì càng có nhiều lớp phủ và sẽ càng khó cho các nhà chức trách lần theo dấu vết giao dịch thông qua các lớp đó. Các lớp phủ thƣờng gồm chuyển giao quyền sở hữu nhằm che giấu và/hoặc khiến cho việc xác định chủ sở hữu thực sự gặp khó khăn hoặc không thể thực hiện đƣợc. Các lớp phủ có thể liên quan đến giao dịch tài chính cơ bản, giao dịch tài chính phức tạp, giao dịch qua biên giới quốc tế, giao dịch sản phẩm, giao dịch thƣơng mại, giao dịch dịch vụ, hay bất kỳ giao dịch nào khác nhằm tạo lớp vỏ che đậy.