Chương 1 cung cấp những kiến thức cơ bản về khái niệm văn hoá nhà trường, trong đó làm rõ khái niệm văn hoá, văn hoá cộng đồng, văn hoá nhà trường; các hình thái và các cấp độ của văn hoá; các lĩnh vực và các thành tố của văn hoá nhà trường. Mục tiêu giúp hình thành cho người học tri thức chung về văn hoá nhà trường (khái niệm, các thành tố, các loại hình và các tầng khác nhau của văn hoá tổ chức nói chung và văn hoá nhà trường nói riêng), có thái độ đúng đắn và khoa học về nhận định văn hoá nhà trường và có kỹ năng tư duy phản biện, tư duy hệ thống và lập luận thuyết phục về những vấn đề chung của văn hoá nhà trường. NỘI DUNG CHI TIẾT: 1. Khái niệm văn hóa nhà trường 1.
Khái niệm Văn hoá * Định nghĩa về Văn hoá a. Quan niệm về Văn hoá ở các nghiên cứu trên thế giới Khi bàn về văn hoá, giáo sư-tiến sĩ khoa học người Nga V. Davidovich đưa ra nhận định như sau: “Văn hoá luôn luôn cần đến đối tác, người nhận, người đối thoại, người kế thừa. Sự phát triển của văn hoá luôn luôn đòi hỏi sự trao đổi các giá trị.
Tồn tại trong văn hoá có nghĩa là được giao tiếp với quá khứ và với tương lai, với "người khác" hiện hữu. Đối với cá nhân thì sự tự cảm nhận mình có mặt trong văn hoá và trở thành có văn hoá có nghĩa là vươn lên trên sự tồn tại có giới hạn của chính mình, cũng có nghĩa là đại diện - trong tiểu sử của mình - cho Vũ trụ, Tự nhiên, Lịch sử - toàn nhân loại một cách đầy đủ nhất. Càng đầy đủ bao nhiêu thì cá nhân càng có quyền coi mình là có văn hoá, có quyền tham gia vào văn hoá của Loài người và của Dân tộc bấy nhiêu” 1. 1 Nhận định này cho thấy phương diện thứ nhất nói về văn hoá là nói đến mối quan hệ giữa con người với con người – đó là mối quan hệ tương tác, đa chiều nhưng thể hiện sự tương hỗ “đối tác, người nhận, người đối thoại, người kế thừa”.
Phương diện thứ hai khẳng định về “mối quan hệ” này là “sự trao đổi các giá trị” tạo nên sự phát triển văn hoá. Chúng ta tương tác với nhau không chỉ đơn thuần thoả mãn về nhu cầu giao tiếp, chuyển tải thông tin…. Mà đó còn là quá trình trao đổi các giá trị. Mỗi cá nhân chúng ta là sự tồn tại có giá trị được hấp thụ qua các “miền”văn hoá khác nhau mà chúng ta trải qua.
Quá trình mà mỗi con người giao tiếp với nhau là làm giàu lên giá trị văn hoá trong mỗi con người. Đặc biệt là, mỗi cá nhân trong môi trường văn hoá là được giao tiếp với quá khứ, hiện tại, tương lai và với người khác hiện hữu. Trong nhận định trên còn cho thấy tầm quan trọng của văn hoá khi mà mỗi cá nhân được có mặt trong văn hoá – trở thành có văn hoá – có nghĩa là vươn lên trên sự tồn tại giới hạn của chính mình – một sự trưởng thành về nhân cách con người trong thế giới, vũ trụ, tự nhiên và lịch sử loài người. Văn hoá là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người.
Ngay từ năm 1952, hai nhà nhân loại học Mỹ là Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn đã từng thống kê có tới 164 định nghĩa khác nhau về văn hóa trong các công trình nổi tiếng thế giới. Hiện nay theo thống kê đã có hơn 400 định nghĩa về văn hoá từ cổ chí kim, từ đông sang tây của các tổ chức và các nhà văn hoá khác nhau. Tựu chung lại đều quan tâm đến 2 phạm trù lớn: Văn hoá là gì? và làm sao để quản lý được văn hoá? Văn hoá của hệ thống không tách rời khởi văn hoá của từng tổ chức và sự phát triển hay lụi bại của tổ chức hoàn toàn phụ thuộc vào văn hoá. Trong mỗi lĩnh vực nghiên cứu, định nghĩa về văn hóa cũng khác nhau.
Các định nghĩa về văn hóa có nhiều cách tiếp cận, đến nỗi ngay cả cách phân loại các định nghĩa về văn hóa cũng có rất nhiều. Một trong những cách phân loại các định nghĩa về văn hóa thành những dạng chủ yếu sau đây: Về mặt thuật ngữ khoa học: Văn hóa được bắt nguồn từ chữ Latinh “Cultus” mà nghĩa gốc là gieo trồng, được dùng theo từ: Cultus Agri là “gieo trồng ruộng đất” Cultus Animi là “gieo trồng tinh thần” tức là: “sự giáo dục tinh thần và tâm 2 hồn con người”. Theo nhà triết học Anh Thomas Hobbes (1588-1679): “Lao- động giành cho đất gọi là sự gieo trồng” và sự dạy dỗ trẻ em gọi là gieo trồng tinh thần”. Từ Tiếng Anh cũng có ý nghĩa tương đồng: Culture (vun trồng); Culture Agri (vun trồng cây cối); Culture Animi (trồng trọt tinh thần/nuôi dưỡng tâm hồn con người).
Tiếng Hán: Văn có nghĩa là vẻ đẹp, có giá trị; Hoá có nghĩa là giáo hoá. Có thể nêu một số các định nghĩa về văn hoá từ các góc độ khác nhau: - Edward Burnett Tylor (1832 - 1917) nhà nhân loại học người Anh đã định nghĩa văn hóa như sau: văn hóa hay văn minh hiểu theo nghĩa rộng trong dân tộc học là một tổng thể kết hợp gồm: kiến thức, đức tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, và bất cứ khả năng, tập quán nào mà con người thu nhận được. - Các định nghĩa lịch sử: Nhấn mạnh các quá trình kế thừa xã hội, truyền thống dựa trên quan điểm về tính ổn định của văn hóa. Một trong những định nghĩa của Edward Sapir (1884 - 1939), nhà nhân loại học, ngôn ngữ học người Mỹ: văn hóa chính là bản thân con người, cho dù là những người hoang dã nhất, sống trong một xã hội tiêu biểu cho một hệ thống kết hợp bởi phong tục tập quán, cách ứng xử và quan điểm được bảo tồn theo truyền thống.
- Các định nghĩa chuẩn mực: Nhấn mạnh đến các quan niệm về giá trị, chẳng hạn William Isaac Thomas (1863 - 1947), nhà xã hội học người Mỹ coi văn hóa là các giá trị vật chất và xã hội của bất kỳ nhóm người nào đã thể hiên qua: (các thiết chế, tập tục, phản ứng, cư xử). - Các định nghĩa tâm lý học: Nhấn mạnh vào quá trình thích nghi với môi trường, quá trình học hỏi, hình thành thói quen, lối ứng xử của con người. Một trong những cách định nghĩa như vậy của William Graham Sumner (1840 - 1910), viện sỹ Mỹ, giáo sư Đại học Yale và Albert Galloway Keller, học trò và cộng sự của ông là: Tổng thể những thích nghi của con người với các điều kiện sinh sống của họ chính là văn hóa, hay văn minh. Những sự thích nghi này được bảo đảm bằng con đường kết hợp các thủ thuật như biến đổi, chọn lọc và truyền đạt bằng kế thừa.
- Các định nghĩa cấu trúc: chú trọng khía cạnh tổ chức cấu trúc của văn hóa, ví dụ Ralph Linton (1893 - 1953), nhà nhân loại học người Mỹ định nghĩa: a)Văn 3 hóa suy cho cùng là các phản ứng ít nhiều có lập lại cách tổ chức của các thành viên xã hội. b) Văn hóa là sự kết hợp giữa lối ứng xử mà các thành tố của nó được các thành viên của xã hội đó tán thành và truyền lại nhờ sự kế thừa - Các định nghĩa nguồn gốc: định nghĩa văn hóa từ góc độ nguồn gốc của văn hóa, ví dụ định nghĩa của Pitirim Alexandrovich Sorokin (1889 - 1968), nhà xã hội học người Mỹ gốc Nga, người sáng lập khoa Xã hội học của Đại học Harvard: Với nghĩa rộng nhất, văn hóa chỉ tổng thể những gì được tạo ra, hay được cải biến bởi hoạt động có ý thức hay vô thức của hai hay nhiều cá nhân tương tác với nhau và tác động đến lối ứng xử của nhau. Từ nhiều cách phân loại như vậy, có thể liệt kê một số các định nghĩa thể hiện sự phát triển của khái niệm: - Khái niệm Văn hoá theo UNESCO: Năm 1994 UNESCO đưa ra định nghĩa về văn hóa: văn hóa được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng thì “Văn hóa là một phức hệ- tổng hợp các đặc trưng diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm (…) khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, vùng, miền, quốc gia, xã hội… Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà còn cả lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng…”.
còn hiểu theo nghĩa hẹp thì “Văn hóa là tổng thể những hệ thống biểu trưng (ký hiệu) chi phối cách ứng xử và giao tiếp trong cộng đồng, khiến cộng đồng đó có đặc thù riêng”. Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa khái quát hơn về văn hóa: Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin. Văn hoá bao gồm cả thái độ, giá trị được chia sẻ chung trong 1 nhóm và thường được thể hiện qua các biểu trưng. Các thái độ và giá trị đó cũng được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Thái độ có thể tồn tại dưới nhiều hình thức từ việc ủng hộ một hệ tư tưởng chính trị cho đến việc dành tình cảm, niềm tin cho các chuẩn mực đạo đức tôn giáo (Larsen, 1972). 4 Văn hóa đó là các giá trị, các ý tưởng, các loại thái độ, các hành vi và các mối quan hệ tạo nên ý nghĩa, sự an toàn và sự xác định của một nhóm người (Frank Gonzales, 1978). Văn hoá tượng trưng cho một hệ thống độc lập bao gồm các giá trị và cách ứng xử chung trong một cộng đồng và có khuynh hướng được duy trì trong một thời gian dài (Kotter và Heskett, 1992). Văn hóa của một nhóm người (Schein E.H, 2004) đó là cách thức chia sẻ các giá trị chính mà nhóm học được trong quá trình giải quyết các vấn đề của nó để thích ứng với môi trường và đảm bảo sự thống nhất của nhóm.
Văn hóa của nhóm giúp các thành viên làm việc tốt và trở thành các giá trị được truyền lại cho các thành viên mới như là các chỉ dẫn cho việc nhận thức, tư duy và cảm nhận trong mối quan hệ với các vấn đề.