phần mở đầu, kết luận, mục lục, các bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày gồm 3 chương: 4 Chƣơng 1: Những vấn đề cơ bản về phát triển tín dụng của Ngân hàng Phát triển. Chƣơng 2: Thực trạng phát triển tín dụng của Ngân hàng Phát triển Việt Nam- Chi nhánh Cao Bằng. Chƣơng 3: Phương hướng và giải pháp phát triển tín dụng của Ngân hàng Phát triển Việt Nam- Chi nhánh Cao Bằng. 5 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN 1.
Đặc điểm, vai trò tín dụng của Ngân hàng Phát triển 1. Đặc điểm của Ngân hàng Phát triển Cũng giống như các ngân hàng khác, NHPT là một tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Bên cạnh đó, vì NHPT cũng là một công cụ của Chính phủ trong việc điều hành nền kinh tế vĩ mô nên NHPT cũng mang một số nét khác biệt so với các trung gian tài chính khác. Mục tiêu tối cao/cuối cùng của NHPT là hỗ trợ cho sự phát triển kinh tế – xã hội của các quốc gia.
Đây là đặc điểm phản ánh sự khác biệt giữa NHPT với các trung gian tài chính khác. NHPT luôn hướng tới mục tiêu duy trì hiệu quả kinh tế – xã hội cho các dự án phát triển nên đôi khi mục tiêu này mâu thuẫn với mục tiêu hiệu quả tài chính. Tuy nhiên, các dự án phát triển mà NHPT chấp nhận tài trợ vẫn phải đảm bảo các nguyên tắc tín dụng cơ bản thông qua hoạt động thẩm định và tư vấn kỹ càng đối với các dự án đó. NHPT cùng khách hàng kết hợp với sự hỗ trợ của các cơ quan quản lý Nhà nước tìm các biện pháp hạn chế rủi ro có thể gây ra tổn thất cho các dự án.
Tại Việt Nam, Ngân hàng Phát triển có những đặc điểm cơ bản được quy định tại Quyết định số 1515/QĐ-TTg ngày 03/09/2015 về điều lệ và tổ chức hoạt động của NHPT như sau: “NHPT là ngân hàng chính sách, hoạt động theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (TNHH MTV) do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. NHPT có tư cách pháp nhân; có vốn điều lệ, có con dấu, được mở tài khoản tại NHNN, Kho bạc Nhà nước (KBNN), các ngân hàng thương mại (NHTM) trong nước và nước ngoài, được tham gia hệ thống thanh toán với các ngân hàng và cung cấp dịch vụ thanh toán theo quy định của pháp luật. Nhà nước là chủ sở hữu của NHPT. Chính phủ thống nhất quản lý thực hiện quyền, nhiệm vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với NHPT.
Thủ tướng Chính phủ (TTCP) 6 trực tiếp thực hiện quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu theo phân công của Chính phủ hoặc ủy quyền cho Bộ Tài chính. Bộ Tài chính thực hiện một số quyền, nhiệm vụ của chủ sở hữu theo phân công của Chính phủ hoặc theo ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ và quy định tại Điều lệ này. Hội đồng quản trị là cơ quan đại diện trực tiếp của chủ sở hữu nhà nước tại NHPT, quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động của NHPT theo phân cấp quy định. NHPT hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận nhằm thực hiện nhiệm vụ tín dụng chính sách của Nhà nước và các nhiệm vụ khác theo quy định của Chính phủ, TTCP; được NSNN cấp bù chênh lệch lãi suất và phí quản lý, được Chính phủ bảo đảm khả năng thanh toán, được miễn nộp thuế và các khoản nộp NSNN.
NHPT được áp dụng tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng 0% (không phần trăm) và không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi.” Tuy nhiên,do được tổ chức thực hiện bởi các cơ quan được Nhà nước ủy quyền nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ, mục tiêu của Nhà nước, đồng thời lại hướng đến đối tượng phục vụ là hoạt động tín dụng cho vay, nên tín dụng cho vay của Nhà nước mang những đặc trưng riêng, phản ảnh sự đan xen giữa đặc điểm của tín dụng và đặc điểm của sử dụng NSNN. Những đặc trưng này là: Nhà nước can thiệp vào các quyết định tín dụng Nếu trong tín dụng thương mại, tổ chức tín dụng có toàn quyền quyết định huy động vốn ở đâu, cho ai vay, lãi suất như thế nào, thì trong tín dụng cho vay của Nhà nước, Nhà nước can thiệp sâu vào các quyết định tín dụng trên nhiều phương diện như cung cấp nguồn vốn với lãi suất ưu đãi, bảo lãnh hoặc tổ chức phát hành trái phiếu chính phủ huy động vốn để cho vay đầu tư, quy định ai được vay, vay với lãi suất như thế nào…. Ngoài ra, tín dụng cho vay của Nhà nước thường được thực hiện với sự tham gia của một cơ quan nhà nước đặc thù (tổ chức được Nhà nước giao nhiệm vụ thực hiện). Cơ quan nhà nước có thể đóng vai trò là người đi vay hoặc là người cho vay, nhưng trong mọi trường hợp, cơ quan nhà nước đều là người chủ động tổ chức quan hệ tín dụng.
Cơ quan nhà nước thực hiện tín dụng cho vay theo chính sách của Nhà nước, nhằm hướng tới các mục tiêu mà Nhà nước theo đuổi. Nói cách khác, tổ chức thực thi tín dụng cho vay của Nhà nước có rất ít quyền tự chủ. Tính hiệu quả kinh tế đan xen hiệu quả chính trị, xã hội Khác với mục đích của các loại hình tín dụng khác trong nền kinh tế thị trường là tìm kiếm lợi nhuận, mục đích của tín dụng cho vay của Nhà nước là hỗ trợ các dự án cho 7 vay thuộc đối tượng mà Nhà nước muốn khuyến khích phát triển. Do đó hoạt động tín dụng cho vay của Nhà nước không vì mục đích lợi nhuận, không đặt mục đích lợi nhuận do khoản tín dụng đó đem lại lên hàng đầu, mà nhấn mạnh hiệu quả kinh tế - chính trị - xã hội.
Chính vì yêu cầu về hiệu quả tổng hợp như vậy nên lãi suất cho vay của tín dụng cho vay của Nhà nước thường thấp hơn lãi suất thị trường và được NSNN cấp bù đắp khoản thâm hụt (nếu có) do phải huy động vốn với lãi suất cao hơn. Tính kế hoạch- chỉ định Hoạt động tín dụng cho vay của Nhà nước mang tính kế hoạch - chỉ định rõ ràng. Kế hoạch tín dụng cho vay hàng năm là một bộ phận của kế hoạch tín dụng cho vay của Nhà nước nhằm thực hiện những mục tiêu chiến lược về phát triển KT-XH trong từng thời kỳ và được Nhà nước thông báo hàng năm. Việc cho vay tín dụng đối với các dự án được thực hiện theo kế hoạch hàng năm do Nhà nước giao.
Việc huy động vốn được thực hiện căn cứ trên nhu cầu giải ngân cho các dự án đã đăng ký theo kế hoạch. Lãi suất huy động vốn và lãi suất cho vay tín dụng cũng được Nhà nước quyết định và thông báo trong từng thời kỳ. Do thực hiện chính sách phát triển kinh tế theo mục tiêu của Chính phủ nên hoạt động tín dụng cho vay của Nhà nước được Chính phủ hỗ trợ mạnh mẽ về nguồn vốn thông qua việc cấp vốn trực tiếp hoặc hỗ trợ trong huy động vốn. Đây là một đặc điểm hết sức quan trọng và khác biệt so với tín dụng của các NHTM.
Sự hậu thuẫn này có tác dụng nâng cao vị thế của tổ chức thực thi tín dụng cho vay của Nhà nước và tạo điều kiện tiếp cận thuận lợi các nguồn vốn với lãi suấtthấp. Ưu đãi về khối lượng, thời hạn và lãi suất Tín dụng cho vay của Nhà nước hàm chứa sự ưu đãi của Nhà nước đối với các đối tượng thụ hưởng. Sự ưu đãi của Nhà nước có thể được thể hiện trên phương diện khối lượng, thời hạn và lãi suất cho vay. Cụ thể: + Về khối lượng: Các dự án tín dụng cho vay thuộc đối tượng vay vốn tín dụng cho vay có thể được Nhà nước cho vay một số lượng vốn rất lớn theo ý chí của Nhà nước, không bị ràng buộc bởi các giới hạn về tỷ lệ an toàn như trong tín dụng của ngân hàng thương mại.
+ Về thời hạn: Các dự án vay vốn tín dụng cho vay của Nhà nước thường được hưởng thời hạn rất dài, có thể lên đến 10 - 15 năm hoặc dài hơn; thời kỳ ân hạn đối với 8 các dự án vay vốn tín dụng cho vay nhà nước cũng thường dài hơn so với tín dụng của ngân hàng thương mại. Đặc điểm này của tín dụng cho vay nhà nước xuất phát từ đặc trưng của các dự án cho vay là có thời gian thực hiện và thu hồi vốn kéo dài và cũng chính do đặc điểm này nên hoạt động cho vay tín dụng của Nhà nước có mức độ rủi ro cao. Về lãi suất vay vốn: Về cơ bản, lãi suất cho vay trong tín dụng cho vay của Nhà nước thường thấp hơn so với tín dụng của ngân hàng thương mại. Đặc điểm này xuất phát từ mục đích phi lợi nhuận của tín dụng cho vay của Nhà nước.
Hơn nữa, do Nhà nước có thể huy động vốn của các chủ thể khác trong xã hội với lãi suất thấp nên có thể cho vay với lãi suất ưu đãi. - Tính giới hạn về đối tượng và hình thức thực hiện Đối tượng vay vốn tín dụng cho vay nhà nước thường bị giới hạn trong phạm vi hẹp và có thể thay đổi qua các thời kỳ khác nhau tuỳ theo điều kiện thực tế của nền kinh tế, khả năng của Nhà nước và mục tiêu phát triển KT-XH trong từng thời kỳ. Thông thường, đối tượng vay vốn tín dụng cho vay nhà nước chỉ là những ngành, những vùng, những thành phần kinh tế, hoặc thậm chí là loại hình doanh nghiệp… mà nhà nước khuyến khích phát triển. Như vậy hoạt động tín dụng cho vay của Nhà nước chỉ tập trung vào các dự án phát triển được Nhà nước khuyến khích, trong khi các hoạt động tín dụng của các tổ chức khác có thể đáp ứng mọi hoạt động của khách hàng, mọi dự án thuộc mọi ngành nghề, lĩnh vực.
- Đối tượng Nhà nước huy động vốn ĐTPT cũng giới hạn trong phạm vi hẹp, chỉ có một số loại hình chủ thể nhất định được Nhà nước huy động vốn để thực hiện tín dụng cho vay. - Tín dụng cho vay của Nhà nước chỉ tài trợ cho các dự án có khả năng thu hồi vốn, có hiệu quả về KT-XH, phù hợp với quy hoạch và các mục tiêu ưu tiên trong chiến lược phát triển KT-XH của đất nước trong từng thờikỳ.