CHƯƠNG 1 CO SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG BÁN LẺ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm tín (tụng bán lẻ Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua thì “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cả nhân sử dụng một khoản tiên hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. 1-2] Theo ĩiến sĩ Nguyễn Minh Kiều thì “77« dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi p h í nhất định [5, tr.54] Có nhiều cách định nghĩa nhưng tựu trung lại thì tín dụng ngân hàng chứa đựng ba nội dung: - Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang người sử dụng.
- Sự chuyển nhượng này có thời hạn. - Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí và rủi ro. **»* Tín dụng bán lẻ Trên cơ sở định nghĩa “Tín dụng ngân hàng” nêu trên, thì hiện nay cũng có nhiêu quan diêm được đưa ra vê định nghĩa về “tín dụng bán lẻ”, cụ thể: ĩheo TS. Lê Khắc Trí , tín dụng bán lẻ là những hình thức cho vay trực tiếp đôn các người vay cuôi cùng, chủ yêu là cá nhân, hộ gia đình, các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
[6] Theo quy định về cấp tín dụng bán lẻ số 6959/QĐ-NHBL ngày 03/11/2014 của B1DV thì “Cap tin dụng bán lẻ ” là việc cấp tín dụng cho Khách hàng bán lẻ băng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, bảo lãnh và các nghiệp vụ khác. Mà "Khách hàng bán lẻ" hay “Khách hàng” là cá nhân (cá nhân Việt Nam và cá nhân 7 nước ngoài), hộ gia đình, hộ kinh doanh có nhu cầu sử dụng sản phẩm, dịch vụ bán lẻ của BIDV.2-3] Tóm lại, kết hợp các quan điểm trên và trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, đôi tượng khách hàng cá nhãn bao gồm có cá nhân và hộ gia đình có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hộ kinh doanh cá thể, vì vậy T ín dụng bán lẻ là hình thức tín dụng mà trong đó NHTM đóng vai trò là người chuyển nhượng quyền sử dụng vôn của mình cho khách hàng cá nhân hoặc hộ gia đình sử dụng trong một thời hạn nhất định phải hoàn trả cả gốc và lãi với mục đích phục vụ đời sổng hoặc phục vụ sản xuất kinh doanh.2 Đ ặ c d i ê m c ủ a tín d ụ n g b á n l ẻ Tín dụng bán lẻ là loại hình tín dụng khác biệt so với tín dụng doanh nghiệp ( tín dụng bán buôn). Với phạm vi nghiên cứu của luận văn này, xin đưa ra một sổ khác biệt như: Q u y m ô m ô i k h o ả n v a y n lĩỏ , s ố l ư ợ n g c á c k h o ả n v a y lớ n Khách hàng cá nhân, hộ gia đình thường có hai mục đích vay: Thứ nhất là cá nhân, hộ gia đình vay để bổ sung vốn kinh doanh. Quyền hoạt động sản xuất kinh doanh của cá nhân, hộ gia đình được pháp luật thừa nhận, nhưng do năng lực hạn chế về tài chính và về khả năng quản lý nên hoạt động kinh doanh thường không có quy mô ltýn.
1hứ hai là cá nhân, hộ gia đình vay đáp ứng nhu cầu vốn để tiêu dùng. Khoản vay cá nhân cho mục đích này trực tiếp phục vụ cho nhu cầu chi tiêu cho cuộc sông như mua nhà dât, mua săm vật dụng gia đình, xây dựng, sửa chữa nhà du học. Sô tiên cho vay hai mục đích này đêu bị giới hạn bởi những điều kiện từ ngân hàng đó là: tính hợp lý của nhu cầu vốn, khả năng trả nợ và tài sản đảm bảo. Vì các nguyên nhân trên dẫn đến quy mô của mỗi khoản vay thường nhỏ.
1uy nhiên, số lượng các khoản tín dụng bán lẻ là rất lớn do hai nguyên nhân: Sô lượng khách hàng cá nhân, hộ gia đình đông do đối tượng của loại hình cho vay này là mọi cá nhân và các hộ gia đình trong xã hội, từ những người có thu 8 nhập cao đến những người có thu nhập trung bình và thấp. Nhu cầu tín dụng phong phú và đa dạng của khách hàng cá nhân, vì khi chất lượng cuộc sống vấ trình độ dân trí được nâng cao, người dân càng có nhu cầu vay ngân hàng để cải thiện và nâng cao mức sống. Một khách hàng cá nhân hoặc hộ gia đình có khả năng có nhiều nhu cầu được đáp ứng bởi các sản phẩm tín dụng phục vụ các mục đích khác nhau như: kinh doanh, mua nhà đất, vay mua ô tô, chữa bệnh du học, tiêu dùng khác. T ín d ụ n g b á n l ẻ t h ư ờ n g d ẫ n đ ế n c á c r ủ i r o *•* Rủi ro do thông tin bất cân xứng Khi thẩm định cho vay thì thông tin về bản thân khách hàng là một trong những yếu tố quan trọng dể ngân hàng đưa đến quyết định cho vay, bên cạnh tính hợp lý và họp pháp của nhu cầu vốn.
khả năng trả nợ và tài sản đảm bảo. Đôi với khách hàng là tổ chức, việc nắm bất thông tin khách hàng là tương đôi thuận lợi do có rất nhiều nguồn thông tin được công khai như: báo cáo tài chính, thông tin xếp hạng tín dụng, tình hình nộp thuế, uy tín quan hệ với các đổi tác. Ngược lại, đối với khách hàng cá nhân, việc đánh giá nhân thân, nguồn trả nợ, mục đích sử dụng vốn vay thường khó đầy dủ và rõ ràng dẫn đến rủi ro thông tin bât cân xứng, khiến cho việc thẩm định khách hàng thiếu chính xác. Nguồn trả nợ chủ yếu của khách hàng cá nhân là từ thu nhập ổn định ở thời điểm hiện tại.
Do vậy, nêu người vay gặp vân đê vê sức khoẻ, mất việc làm hav gặp các biến cố bất ngờ ảnh hưởng đến thu nhập thì sẽ không trả được nợ vay cho ngân hàng. <• Rủi ro tác nghiệp Do dặc diêm của tín dụng bán lẻ là quy mô môi khoản vay nhỏ nhưng số lượng khoản vay lớn, vì vậy để có thể đáp ứng tối đa nhu cầu khách hàng nhằm nâng cao kết quả công việc đòi hỏi sự phục vụ nhanh chóng của QLKH Do đó, trong quá trình thẩm định hồ sơ tín dụng các cán bộ thường hay chủ quan, thậm chí lợi dụng sự lỏng lẻo của công tác quản lý và sơ hở của các quy định để lừa đảo chiêm đoạt tài sản của khách hàng, hoặc thông đồng với khách hàng gây ra những tổn thât cho ngân hàng. 9 Rủi ro này còn tăng lên đôi với cho vay tín chấp, do ngân hàng cấp tín dụng trên cơ sở thẩm định uy tín của khách hàng tốt hay xấu mà không có biện pháp đảm bảo bằng tài sản. Trong trường hợp đó, nếu khách hàng thực sự không có khả năng trả nợ vay hoặc có khả năng, nhưng không có ý chí trả nợ vay trong khi việc quản lý thông tin về sự thay đổi nơi cư trú, công việc của khách hàng là một điều không dễ dàng thì sẽ rất khó khăn cho ngân hàng khi xử lý khoản vay để thu hồi nợ.
T ín d ụ n g b á n l ẻ g â y tố n k é m n h i ề u c h i p h í Do đặc diêm của khách hàng bán lẻ là sô lượng nhiêu và phân tán rộng nên đê duy trì và phát triển tín dụng bán lẻ sẽ tổn kém nhiều chi phí cho các công tác: - Mở rông hệ thống mạng lưới, quảng cáo, tiếp thị tạo thuận lợi trong việc tiếp cận đối tượng khách hàng cá nhân ở từng địa bàn, khu vực. - Phát triển nhân sự đầy đủ nhằm phục vụ khách hàng nhanh chóng chính xác từ khâu tiếp nhận hồ sơ, thẩm định đến quyết định cho vay, giải ngân và thu nợ. Các chi phí liên quan như: chi phí quản lý, văn phòng phẩm, điện, nước điện thoại, công tác phí hỗ trợ Q LK H. V a i tr ò c ủ a tín d ụ n g b á n l ẻ Có thể nói rằng hầu hết các chủ thể trong nền kinh tế, dù là trực tiếp hay gián tiếp cũng đều được hưởng những lợi ích do hoạt động của ngân hàng mang lại.
Hoạt động tín dụng bán lẻ cũng không là ngoại lệ khi có những vai trò sau đây: ỉ. Đoi với nền kinh tế - xã hội. *** Góp phần tạo sự năng động cho các thành phần kinh tế 1ín dụng bán lẻ là kênh hỗ trợ vốn để dân chủng trang trải các chi phí phát sinh trong cuộc sống từ thỏa mãn nhu cầu thiết yếu cho đến nhu cầu xa xỉ với chi phí dăt đỏ, nhăm nâng cao chât lượng cuộc sông. Đế có thể đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng, buộc các thành phần kinh tế phải đẩy mạnh sản xuất do đó tạo nhiều công ăn việc làm, tạo ra những khác biệt tích cực giúp tăng khả năng cạnh tranh trước các đỏi thủ trong và ngoài nước trong thời kỳ hội nhập.
*** Góp phân tạo sự ổn định về mặt xã hội Là một phân của tín dụng nói chung, tín dụng bán lẻ cũng có vai trò tích cực 10 đôi với xã hội. Tín dụng bán lẻ góp phần khai thác triệt để các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội rồi lưu thông các nguôn vốn này một cách trôi chảy và hiệu quả từ nơi thừa vôn đên nơi thiêu vôn, từ nơi hiệu quả thấp đến nơi hiệu quả cao. Tín dụng bán lẻ giúp kích cầu trong nền kinh tế, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, thúc đẩy sản xuất trong nước. Do đó thu hút nhiều lực lượng lao động tham gia xây dựng, sản xuất tạo công ăn việc làm, hướng đến các mục tiêu xã hội như xóa đói, giảm nghèo, tăng thu nhập, giảm tệ nạn xã hội góp phần ổn định trật tự xã hội.
rin dụng bán lẻ góp phần đẩy lùi tệ nạn tín dụng đen, cho vay nặng lãi ở nhiêu nơi: kênh tín dụng bán lẻ được khai thông giúp các khách hàng cá nhân hộ gia đình, hộ kinh doanh dễ dàng tiếp cận nguồn vốn ngân hàng có lãi suất hợp lý từ đó hạn chê nạn cho vay nặng lãi ở nhiều nơi.