phần mở đầu, kết luận, danh mục tham khảo, Luận văn được kết cấu gồm 3 chương : Chƣơng I : Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển thị trường dịch vụ bưu chính ở Việt Nam. Chƣơng II : Thực trạng thị trường dịch vụ bưu chính ở Việt Nam Chƣơng III : Định hướng và giải pháp phát triển thị trường dịch vụ bưu chính ở Việt Nam. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƢỜNG DỊCH VỤ BƢU CHÍNH Ở VIỆT NAM 1.1 Lý luận chung về phát triển thị trƣờng dịch vụ bƣu chính 1.1 Những vấn đề lý luận về phát triển thị trường 1.1 Thị trường, phân loại thị trường. Nhiều nghiên cứu đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về thị trường tuỳ cách tiếp cận khác nhau của nhà nghiên cứu.
Theo quan niệm của Lênin “Thị trường nghĩa là lĩnh vực trao đổi”. Khái niệm thị trường không tách rời khái niệm phân công lao động xã hội. Hễ ở đâu và khi nào có sự phân công lao động xã hội và sản xuất hàng hoá thì ở đó có thi trường. Quy mô của thị trường gắn với trình độ phân công và chuyên môn hoá lao động xã hội.
Thị trường là lĩnh vực lưu thông hàng hoá, nó là một nhân tố của quá trình tái sản xuất xã hội, nối sản xuất với tiêu dùng, là lĩnh vực giao tiếp giữa người sản xuất và người tiêu dùng. Quan điểm của các nhà kinh tế học tư sản hiện đại cho rằng Thị trường là một tập hợp những người mua và người bán tương tác với nhau ở hiện tại và trong tương lai để xác định giá cả và sản lượng của một hay một nhóm sản phẩm. Tiếp cận theo khía cạnh các mối quan hệ, thị trường được hiểu là tổng hoà những mối quan hệ mua bán trong xã hội, được hình thành do ngững điều kiện lịch sử, kinh tế, xã hội nhất định (Kinh tế chính trị Mác- Lênin, tr…) Như vây, thị trường là nơi trao đổi hàng hoá được sản xuất ra và hình thành trong quá trình sản xuất và trao đổi hàng hoá cùng với mọi quan hệ kinh tế giữa người với người, liên kết với nhau thông qua trao đổi hàng hoá. Thị trường có chức năng phối hợp các quá trình ra quyết định riêng lẻ và giải đáp bốn vấn đề cực kỳ quan trọng là sản xuất cái gì, như 6 thế nào, cho ai và đổi mới cái gì.
Thị trường cũng là cơ chế giúp đạt được các mục tiêu của xã hội như tự do, công bằng, lành mạnh và tiến bộ. Khi đã nói đến thị trường chúng ta phải kể đến các yếu tố cơ bản của thị trường: Cung, cầu, giá cả và cơ chế điều tiết của thị trường. Cung - cầu hàng hoá, dịch vụ, đó là hai lực lượng người bán và người mua trên thị trường. Sự biến động của giá cả là cho trạng thái cân bằng của cung - cầu thường xuyên biến đổi và đó cũng chính là quy luật cung cầu hàng hoá, dịch vụ.
Như chúng ta đã biết kinh tế học hiện đại phân chia thị trường thành yếu tố sản xuất và thị trường bằng hàng hoá tiêu dùng, dịch vụ, thị trường trong nước và thị trường ngoài nước. Thị trường yếu tố sản xuất hay là thị trường "đầu vào" là nơi mua bán các yếu tố sản xuất như sức lao động, tư liệu sản xuất, vốn và các điều kiện vật chất khác để SXKD. Thị trường sản phẩm tiêu dùng, dịch vụ hay thị trường "đầu ra" là nơi mua bán các loại hàng hoá tiêu dùng cuối cùng và dịch vụ. Thị trường trong nước là việc mua bán trao đổi hàng hoá giữa các chủ thể kinh tế và người tiêu dùng trong nước.
Thị trường nước ngoài là sự mua bán, trao đổi hàng hoá giữa nước này và nước khác. Các thị trường có mối quan hệ chặt chẽ và cùng thúc đẩy nhau phát triển - Thứ nhất: Mối quan hệ giữa thị trường đầu vào và đầu ra Thị trường các yếu tố sản xuất bao gồm: thị trường vốn, thị trường sức lao động và thị trường các điều kiện vật chất khác cho quá trình tái sản xuất. Có thị trường này mới có các yếu tố sản xuất ra hàng hoá, mới có hàng hoá tiêu dùng và dịch vụ, hay mới có thị trường đầu ra. Số lượng, chất lượng tính đa dạng của thị trường đầu ra do thị trường đầu vào quy định.
Tuy nhiên thị trường đầu ra cũng có ảnh hưởng đến thị trường đầu vào, kích thích tính tính cực của thị trường đầu vào - Thứ hai: Mối quan hệ giữa thị trường trong và ngoài nước 7 Sẽ là sai lầm nếu muốn phát triển thị trường "đầu ra", "đầu vào", muốn đảm bảo sự cân bằng của các thị trường mà không chú ý đầy đủ tới thị trường nước ngoài, không chú ý tới ngoại thương. Đặc biệt trong điều kiện phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, khoa học kỹ thuật và thông tin hội nhập với nền kinh tế thế giới và khu vực, thị trường ngoài nước càng có ý nghĩa với nền kinh tế nước ta. Thị trường ngoài nước, thông qua ngoại thương có tác động thúc đẩy và hỗ trợ thị trường trong nước phát triển. Ngược lại thông qua ngoại thương, thị trường trong nước có thể nhanh chóng tiếp cận thị trường thế giới.
Ngoại thương sẽ đảm bảo tái sản xuất mở rộng và nâng cao chất lượng của thị trường đầu vào và đầu ra. Thông qua nhập khẩu, nền kinh tế có được hàng hoá kỹ thuật hiện đại, thông tin, vốn, chất xám, những hàng tiêu dùng, dịch vụ để đáp ứng quá trình tái sản xuất trong nước. Thông qua hoạt động xuất khẩu mà bán được hàng hoá ra nước ngoài, thu tiền về để phục vụ những nhu cầu phát triển kinh tế. Trong xu thế quốc tế hoá đời sống kinh tế diễn ra mạnh mẽ, thị trường trong nước có mối quan hệ chặt chẽ với thị trường ngoài nước thông qua hoạt động ngoại thương.
Sự phát triển mạnh mẽ của ngoại thương sẽ đảm bảo mở rộng thị trường các yếu tố đầu vào, đầu ra của thị trường trong nước và đảm bảo sự cân bằng của hai thị trường đó. Quan hệ cung cầu hàng hoá trên thị trường đã thay đổi một cách cơ bản từ chỗ thiếu hụt hàng hoá sang trạng thái đủ và dư thừa. Nhiều mặt hàng trong nước đã phải nhập khẩu thì đến nay sản xuất nội địa đã đảm bảo yêu cầu trong nước và có thể xuất khẩu như gạo, đường, xi măng. Quá trình thương mại hoá các yếu tố kinh tế đem lại sự cởi trói các nhu cầu.
Từ chỗ dịch vụ chỉ là hoạt động yểm trợ bán hàng đã phát triển thành địa hạt các nhà đầu tư kinh doanh. Ngoài kinh doanh dịch vụ đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của nền sản xuất xã hội. 8 Thị trường trong nước bước đầu đã có sự thông thương với thị trường quốc tế. Dù ở mức độ còn hạn chế nhưng sự tác động của tăng trưởng hay suy thoái trên thị trường quốc tế đã bắt đầu ảnh hưởng đến thị trường trong nước.
Do chính sách của nền kinh tế, hàng hoá ngoại nhập tràn ngập thị trường nội địa. Hàng ngoại đang có ưu thế so với hàng hoá sản xuất trong nước. Thêm vào đó là sự yếu kém về chất lượng, giá cả, quy cách, chủng loại của hàng hoá nội địa và tâm lý sùng bái hàng ngoại đã làm cho hàng hoá nội yếu thế. Thị trường Việt Nam đã có sự phát triển cả về lượng và chất.
Thị trường quốc tế của Việt Nam phát triển với tốc độ cao những năm gần đây. Chính sách mở cửa của nền kinh tế, phương châm đa phương hoá, đa dạng hoá của Việt Nam của Việt Nam đã gặt hái được nhiều thành công. Điểm nổi bật trong xuất khẩu của Việt Nam những năm qua là đã xuất khẩu được đến thị trường đích và nhập khẩu được từ thị trường nguồn. Nhiều mặt hàng chủ lực của Việt Nam đã có tiếng trên thị trường thế giới.
Sự quản lý và điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với thị trường và thương mại đã có nhiều đổi mới. Đổi mới trước hết là cơ chế quản lý thị trường. Các chính sách quản lý và công cụ quản lý của Nhà nước đối với thị trường được nghiên cứu kỹ và thông thoáng hơn. Nhà nước đã tạo lập được môi trường pháp lý cho các hoạt động trên thị trường Quá trình sản xuất và tiêu dùng ngày càng phát triển, sản phẩm hàng hoá ngày càng đa dạng và phong phú.
Người tiêu dùng ngoài nhu cầu về sản phẩm vật chất còn có nhu cầu về sản phẩm không vật chất, đó là các dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu của con người như dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, thông tin liên lạc, văn hoá, du lịch.phát triển mang tính toàn cầu. Trên thị trường đang tồn tại ách tắc và mâu thuẫn lớn. Nói chung, thị trường hàng hoá, dịch vụ ở Việt Nam mới bước được hình thành và trình độ còn thấp, hàng hoá bị ứ đọng khó tiêu thụ, thị trường xuất khẩu đã phát triển nhưng không ổn định, thiếu bền vững. Sự chậm 9 trễ và thiếu đồng bộ trong ban hành các chính sách kinh tế đã làm trầm trọng thêm những khuyết tật thị trường.
Phát triển thị trường: Thị trường gắn liền với quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa. Thừa nhận sản xuất hàng hóa không thể phủ định sự tồn tại khách quan của thị trường. Sản xuất hàng hóa, lưu thông hàng hóa và thị trường đã được khẳng định về lý luận và tồn tại ở Việt Nam. Trên thị trường có hai nhóm người hoạt động.
Nhóm thứ nhất là những người mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ, nhóm thứ hai là những người bán hoặc cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho tiêu dùng. Sự phân nhóm này chỉ là tương đối và với mỗi người khi này thì thuộc nhóm người mua nhưng khi khác lại thuộc nhóm người bán. Thị trường là giao điểm gặp gỡ, tác động của hai nhóm người này. Cùng thông qua thị trường để giải quyết mâu thuẫn giữa người mua và người bán, bảo đảm thực hiện cân đối giữa cung và cầu.
Mâu thuẫn trên thị trường phản ánh mâu thuẫn kinh tế, chính trị, xã hội. Khi mâu thuẫn được giải quyết thì người mua, người bán, người sản xuất, người tiêu dùng đều thực hiện được mục tiêu của mình. Những ách tắc trên thị trường có nguy cơ dẫn tới khủng hoảng kinh tế, mâu thuẫn gây mất ổn định xã hội. Như vậy, phát triển thị trường là điều kiện để phát triển sản xuất hàng hóa, dịch vụ suy rộng ra là điều kiện của sự phồn thịnh kinh tế xã hội.