CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN THẺ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Hoạt động thanh toán của các Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Ngân hàng thương mại và hoạt động thanh toán của Ngân hàng thương mại Trong một nền kinh tế hàng hóa, tại một thời điểm nhất định luôn tồn tại một thực tế là có những người tạm thời đang có một số tiền nhàn rỗi, trong khi đó có những người đang rất cần khối lượng tiền như vậy (để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hay những cuộc đầu tư có hiệu quả) và họ có thể trả một khoản chi phí để có quyền sử dụng số tiền này. Theo quy luật cung - cầu, họ sẽ gặp nhau và khi đó tất cả (người cho vay, người đi vay, và cả xã hội) đều có lợi, sản xuất lưu thông được phát triển và đời sống được cải thiện.
Cách thức gặp nhau rất đa dạng, và theo đà phát triển NHTM ra đời như một tất yếu và là một cách thức quan trọng, phổ biến nhất.Thông qua các ngân hàng, những người có tiền có thể dễ dàng có được một khoản lợi tức còn người cần tiền có thể có được số tiền cần thiết với mức chi phí hợp lý. Có thể nói các ngân hàng nói riêng và hệ thống tài chính ngân hàng nói chung đang ngày càng chiếm một vị trí quan trọng nhưng cũng vô cùng nhạy cảm trong nền kinh tế, liên quan tới hoạt động của đời sống kinh tế xã hội. Theo pháp lệnh ngân hàng ngày 23-5-1990 của Hội đồng Nhà nước Việt Nam xác định: “Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán” [3]. Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng, với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán [1].
5 Thanh toán qua ngân hàng là hình thức thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ và các nhu cầu mua – bán khác thông qua vai trò trung gian của ngân hàng. Thanh toán có 2 hình thức chính là thanh toán dùng tiền mặt và thanh toán không dùng tiền mặt. Tại các ngân hàng, thanh toán chủ yếu là loại thanh toán không dùng tiền mặt [1]. Thanh toán qua ngân hàng là một trong các hoạt động cung cấp các dịch vụ của các Ngân hàng thương mại, đem lại thu nhập cho ngân hàng dưới dạng phí dịch vụ.
Đối với hầu hết các ngân hàng, thu nhập từ việc cung cấp các dịch vụ ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập. Thanh toán không dùng tiền mặt đã trở thành phương thức thanh toán phổ biến tại nhiều quốc gia phát triển: Bỉ, Pháp, Canada với giá trị chi tiêu của người dân chiếm tới hơn 90% tổng số giao dịch hằng ngày. Tại Việt Nam, từ năm 2008 đến nay, các dịch vụ, phương thức thanh toán không dùng tiền mặt đã được phát triển mạnh mẽ và đa dạng dựa trên nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin: internet banking, mobile banking, ví điện tử., rất đa dạng và phong phú, hướng đến việc Việt Nam sẽ bắt kịp với xu thế thanh toán của các nước trong khu vực và trên thế giới. Theo Quyết định 1073/QĐ-TTg ngày 12/07/2010, về việc đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2011-2015 [13]: + Đến cuối 2015, tỷ lệ trong tổng tiền mặt thanh toán nhỏ hơn 11% + Tăng mạnh số người dân được tiếp cận các dịch vụ thanh toán, nâng tỷ lệ người dân có tài khoản tại ngân hàng (35-40%) 1.
Vai trò của hoạt động thanh toán của ngân hàng thương mại Như vậy có thể thấy, thanh toán qua ngân hàng ngoài việc bắt kịp với xu thế thế giới của Việt Nam trong quá trình hội nhập, thì đó còn là việc sẽ mang lại rất nhiều lợi ích cho một nền kinh tế. Hoạt động này sẽ mang lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người tiêu dùng, người bán hàng, tổ chức tín dụng (chủ yếu là ngân hàng) và tổng thể nền kinh tế. Một khi người tiêu dùng thấy được 6 lợi ích và duy trì thường xuyên thói quen thanh toán này, chắc chắn cả nền kinh tế vĩ mô cũng sẽ được hưởng lợi theo. * Đối với các cá nhân, các chủ thẻ: - Nhanh chóng, an toàn: Nhanh chóng thanh toán cho các giao dịch có giá trị lớn, các giao dịch ở xa.
An toàn vì tránh được các rủi ro mang tiền mặt như mất cắp; an toàn vì tránh được các rủi ro vật lý như rách, mất góc không thể sử dụng. - Chính xác: Chính xác số tiền cần thanh toán, nhất là khi phải trả các khoản lớn, số lẻ. - Tiết kiệm: Người tiêu dùng có thể nhận nhiều khuyến mãi từ người bán cũng như ngân hàng hơn. Chủ thẻ thường xuyên được giảm giá khi thanh toán bằng thẻ ngân hàng, các chương trình khuyến mãi sẽ được người bán liên tục “tung” ra thị trường để khuyến khích tiêu dùng.
* Đối với ngân hàng phát hành: - Với khoản lệ phí hàng năm mà chủ thẻ phải nộp để hưởng dịch vụ thanh toán mà ngân hàng cung cấp, chủ thẻ đã tạo nên một nguồn thu đều đặn cho ngân hàng phát hành. -Ngoài ra, việc chủ thẻ nạp tiền vào tài khoản để sử dụng thẻ, ngân hàng cũng có thêm một nguồn huy động từ tiền gửi không kì hạn của khách hàng. - Việc đặt các máy ATM hay liên hệ với các cơ sở chấp nhận thẻ mới cũng góp phần mở rộng địa bàn hoạt động của ngân hàng, điều này rất có ích ở những nơi mà việc mở chi nhánh là tốn kém. * Đối với ngân hàng thanh toán: - Trong quy trình thanh toán thẻ, các cơ sở phát hành thường mở tài khoản tại các ngân hàng thanh toán cho tiện việc thanh toán.
Điều này đã làm tăng lượng số dư tiền gửi và nguồn huy động cho ngân hàng thanh toán. - Với các loại phí như: chiết khấu thương mại, phí rút tiền mặt, phí đại lí thanh toán, ngân hàng thanh toán sẽ có được một khoản thu tương đối ổn định. * Đối với các cơ sở chấp nhận thanh toán: 7 - Với việc được cấp tín dụng trước cho khách hàng, ngân hàng đã giúp khách hàng chi tiêu vượt quá khả năng của mình, đây là một sức đẩy đối với sức mua của khách hàng và chính điều này sẽ làm cho lượng tiêu thụ hàng hóa dịch vụ của các cơ sở chấp nhận thanh toán thẻ tăng cao. - Khi chấp nhận thẻ thanh toán, người bán hàng có khả năng giảm thiểu các chi phí về quản lý tiền mặt như bảo quản, kiểm đếm, nộp vào tài khoản ở Ngân hàng.
- Ngoài ra, đối với một số cơ sở, việc chấp nhận thanh toán bằng thẻ của ngân hàng cũng là một điều kiện để được hưởng các ưu đãi của ngân hàng về tín dụng, dịch vụ thanh toán. * Đối với tổng thể kinh tế: - Giảm chi phí xã hội: Giảm chi phí in ấn tiền, vận chuyển và kiểm đếm hay bảo quản tiền. Chỉ riêng dịp Tết 4 năm từ 2013 trở lại đây, việc NHNN không phát hành mới tiền lẻ giúp tiết kiệm được 1. - Giảm lạm phát: Số lượng tiền mặt lưu thông là một yếu tố tác động trực tiếp tới lạm phát.
Lạm phát là sự thay đổi về giá hàng hóa giữa hai thời điểm khác nhau. Phân loại hoạt động thanh toán của Ngân hàng thương mại Theo quy định thanh toán không dùng tiền mặt Thông tư 46/2014/TT- NHNN, có bốn hình thức thanh toán tại ngân hàng thương mại như sau: [4] 1. Thanh toán sử dụng giấy ủy nhiệm (thu hoặc chi) Ủy nhiệm chi là một lệnh chi theo mẫu ngân hàng, yêu cầu ngân hàng đó trích một số tiền nhất định cho người được hưởng trên giấy ủy nhiệm. Ủy nhiệm thu cũng là một lệnh, yêu cầu ngân hàng thu hộ một số tiền nhất định từ người được ghi trên giấy ủy nhiệm.1: Mẫu ủy nhiệm chi phổ biến của Ngân hàng.
Thanh toán sử dụng Séc Séc (cheque) là một phiếu chi, một mệnh lệnh vô thời hạn thể hiện dưới dạng chứng từ của người chủ tài khoản và có xác nhận của ngân hàng; yêu cầu ngân hàng trích tiền từ tài khoản của chủ Séc sang tài khoản của người có tên trên Séc (có thể trích gửi tiền mặt trực tiếp cho họ). Bất kỳ người nào có “tấm Séc” ký tên của chủ tài khoản đều có thể nhận tiền. Thanh toán trực tuyến Cách thức thanh toán này sử dụng dịch vụ Ngân hàng trực tuyến (Internet banking) của ngân hàng. Dịch vụ này cho phép người dùng thanh toán các hóa đơn hàng hóa ngay tại nhà hoặc bất kỳ đâu mà không cần trực tiếp tại quầy thanh toán.
Chỉ cần một thiết bị kết nối Internet như máy vi tính, điện thoại thông minh và tài khoản online do ngân hàng cung cấp là có thể trả tiền hóa đơn mà không cần tới quầy, không dùng một đồng tiền mặt nào. Theo đề án mới của NHNN được Thủ tướng chính phí phê duyệt, tới năm 2020, tại Việt Nam cứ 7 trong 10 người từ 15 tuổi trở lên có tài khoản ngân hàng. 9 Và như vậy thì đồng nghĩa với việc thanh toán không dùng tiền mặt sẽ trở nên rất phổ biến. Phương thức thanh toán này đang chứng minh được giá trị của nó, và đang trên đà thay thế thói quen thanh toán bằng tiền mặt của chúng ta.
Thanh toán thẻ Thẻ ngân hàng là một công cụ đã được mã hóa thông tin của chủ thẻ, cho phép chủ tài khoản có thể thanh toán, giao dịch, rút tiền hoặc chuyển tiền bất kỳ lúc nào họ muốn. Đây là một dịch vụ thanh toán ưu việt và được sử dụng rất phổ biến trên toàn thế giới.Thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt do các ngân hàng hay các tổ chức tài chính phát hành và cung cấp cho khách hàng. Khách hàng có thể sử dụng để rút tiền mặt tại các ngân hàng đại lý, các máy rút tiền tự động (ATM) hoặc thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ. Cùng với sự phát triển kinh tế, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao, nhu cầu tiêu dùng cũng vì thế phát triển mạnh, qua đó nhu cầu thanh toán nhanh chóng và thuận tiện trở thành một yêu cầu của khách hàng đối với ngân hàng.
Điều này gây áp lực lên các ngân hàng đòi hỏi các ngân hàng phải nâng cao chất lượng dịch vụ thanh toán của mình nhằm cung cấp cho khách hàng dịch vụ thanh toán tốt nhất.